Ảnh hưởng của hiểu biết tài chính cá nhân đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên tại Hải Phòng

25/06/2026, 14:41
chia sẻ bài viết

TCDN - Thông qua dữ liệu khảo sát gồm 560 sinh viên tại 6 trường đại học công lập trên địa bàn và phân tích định lượng bằng kiểm định Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy đa biến, kết quả cho thấy thang đo kiến thức tài chính tách thành hai nhân tố: kiến thức tài chính cơ bản và kiến thức tài chính ứng dụng.

TÓM TẮT

Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của hiểu biết tài chính cá nhân, được tiếp cận qua ba thành phần kiến thức tài chính, kỹ năng tài chính và thái độ tài chính, đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên tại Hải Phòng. Thông qua dữ liệu khảo sát gồm 560 sinh viên tại 6 trường đại học công lập trên địa bàn và phân tích định lượng bằng kiểm định Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy đa biến, kết quả cho thấy thang đo kiến thức tài chính tách thành hai nhân tố: kiến thức tài chính cơ bản và kiến thức tài chính ứng dụng, phản ánh sự khác biệt giữa tri thức nền tảng và năng lực ra quyết định thực tế. Mô hình hồi quy đạt R² hiệu chỉnh = 0,498, xác nhận cả bốn nhân tố đều tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên. Trong đó, thái độ tài chính là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là kiến thức tài chính ứng dụng, kiến thức tài chính cơ bản và kỹ năng tài chính. Nghiên cứu cũng bước đầu thử nghiệm biện pháp nhằm đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất, góp phần bổ sung góc nhìn ứng dụng cho lĩnh vực giáo dục tài chính cá nhân tại Việt Nam.

Từ khóa: Hiểu biết tài chính cá nhân, hành vi chi tiêu, hành vi tiết kiệm, sinh viên, Hải Phòng.

ABSTRACT

This study examines the impact of personal financial literacy, conceptualized through three dimensions: financial knowledge, financial skills, and financial attitude, on the spending and saving behavior of students in Hai Phong. Based on survey data collected from 560 students at six public universities in the city, using quantitative methods including Cronbach’s Alpha, Exploratory Factor Analysis (EFA), and multiple regression analysis, the results show that the financial knowledge scale splits into two distinct factors: basic financial knowledge and applied financial knowledge. This distinction reflects the difference between foundational financial understanding and the ability to make practical financial decisions. The regression model achieved an adjusted R² of 0.498, confirming that all four factors have a statistically significant positive effect on students’ spending and saving behavior. Among these, financial attitude has the strongest influence, followed by applied financial knowledge, basic financial knowledge, and financial skills. In addition, the study preliminarily tested certain measures to evaluate the feasibility of the proposed solutions, thereby contributing practical insights to the field of personal financial education in Vietnam.

Keywords: personal financial literacy, spending behavior, saving behavior, students, Hai Phong.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, sinh viên ngày càng tiếp cận nhiều hình thức tài chính đa dạng như thanh toán không dùng tiền mặt, mua sắm trực tuyến và tiêu dùng trả chậm. Tuy nhiên, khả năng tự chủ tài chính của phần lớn sinh viên còn hạn chế do phụ thuộc vào gia đình hoặc thu nhập chưa ổn định, tiềm ẩn nguy cơ chi tiêu thiếu kiểm soát và mất cân đối tài chính cá nhân.

Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế, giáo dục lớn của miền Bắc, nơi có số lượng sinh viên ngày càng gia tăng cùng mức chi phí sinh hoạt có xu hướng tăng theo quá trình đô thị hóa. Những đặc điểm này đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khả năng quản lý tài chính cá nhân của sinh viên. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn thiếu các nghiên cứu thực nghiệm làm rõ vai trò của hiểu biết tài chính đối với hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên trên địa bàn thành phố.

Trên phương diện học thuật, tuy các nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định vai trò tích cực của hiểu biết tài chính đối với hành vi tài chính cá nhân nhưng phần lớn các công trình tiếp cận hành vi tài chính dưới góc độ tổng thể và chưa phân tách riêng biệt hành vi chi tiêu với hành vi tiết kiệm. Đặc biệt, nghiên cứu kiểm chứng thực nghiệm tính khả thi của các biện pháp can thiệp cụ thể vẫn còn rất hạn chế.

Xuất phát từ đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm: (1) đo lường mức độ ảnh hưởng của từng thành phần hiểu biết tài chính đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên tại Hải Phòng; (2) làm rõ cơ chế tác động thông qua phân tích định lượng nghiêm ngặt; và (3) bước đầu thử nghiệm các biện pháp nhằm đánh giá tính khả thi của giải pháp đề xuất.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Khung lý thuyết

Hiểu biết tài chính cá nhân là một khái niệm đa chiều. Huston (2010) nhấn mạnh rằng hiểu biết tài chính không chỉ bao gồm sự hiểu biết mà còn đòi hỏi khả năng vận dụng vào thực tiễn. Theo Lusardi và Mitchell (2014), hiểu biết tài chính được xem như một dạng vốn con người có khả năng nâng cao chất lượng các quyết định kinh tế của cá nhân. Khi cá nhân hiểu rõ các nguyên tắc tài chính cơ bản như lập ngân sách, lãi suất, lạm phát hay quản trị rủi ro, họ có xu hướng cân nhắc kỹ lưỡng hơn trước các quyết định chi tiêu và chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch tiết kiệm. Trên cơ sở đó, đề tài tiếp cận hiểu biết tài chính cá nhân thông qua ba thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau là kiến thức tài chính, kỹ năng tài chính và thái độ tài chính. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm đúng bản chất của khái niệm, vừa phù hợp với logic nghiên cứu xem hiểu biết tài chính là tiền đề của hành vi chi tiêu và tiết kiệm.

Kiến thức tài chính phản ánh mức độ sinh viên hiểu các nội dung cơ bản như lập ngân sách, lãi suất, lạm phát, rủi ro tài chính và nguyên tắc lựa chọn giữa các phương án tài chính (Lusardi & Mitchell, 2014; Huston, 2010). Kỹ năng tài chính thể hiện khả năng lập kế hoạch chi tiêu, theo dõi dòng tiền, phân bổ nguồn lực và tìm kiếm thông tin để lựa chọn phương án tài chính phù hợp (Huston, 2010). Thái độ tài chính phản ánh cách sinh viên đánh giá, coi trọng và định hướng đối với quản lý tiền bạc, được tiếp cận qua lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) và lý thuyết kỳ vọng – giá trị của Eccles và Wigfield (2002).

Hành vi chi tiêu và tiết kiệm được xem xét theo quan điểm của Xiao (2008) là tập hợp các hành động tài chính tích cực như lập kế hoạch, kiểm soát chi tiêu và duy trì tiết kiệm. Các nghiên cứu của Hilgert và cộng sự (2003), Lusardi và Mitchell (2014), cùng các tổng quan gần đây về giáo dục tài chính đều cho thấy hiểu biết tài chính có vai trò quan trọng trong việc hình thành và thúc đẩy các hành vi tài chính tích cực của cá nhân

2. Mô hình nghiên cứu

Từ các cơ sở lý luận trên có thể thấy rằng kiến thức tài chính, kỹ năng tài chính và thái độ tài chính đều có khả năng tác động đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên.

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

z7974631279300_58796467dcad3054dbccf70360a4da53

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Giai đoạn định tính được thực hiện thông qua tổng quan tài liệu và thảo luận nhóm nhằm xây dựng, điều chỉnh thang đo phù hợp với bối cảnh nghiên cứu. Giai đoạn định lượng được triển khai bằng hình thức khảo sát trực tuyến đối với sinh viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn Hải Phòng, bảo đảm sự tham gia của sinh viên thuộc nhiều trường và nhóm ngành khác nhau.

Dữ liệu khảo sát được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2025 đến tháng 01 năm 2026. Nhóm tác giả đã thu thập được 570 phiếu khảo sát. Sau khi loại bỏ các phiếu trả lời không đầy đủ hoặc không hợp lệ, còn lại 560 phiếu hợp lệ được sử dụng cho phân tích. Quy mô mẫu này đáp ứng yêu cầu phục vụ các phân tích Cronbach’s Alpha, EFA, tương quan Pearson và hồi quy đa biến. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS theo trình tự: kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định tương quan Pearson và phân tích hồi quy đa biến.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Đặc điểm mẫu khảo sát

Trong số 560 sinh viên tham gia khảo sát, nữ chiếm 56,4% và nam chiếm 43,6%. Xét theo năm học, sinh viên năm 3 và năm 4 chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 37,3% và 25,4%. Về ngành học, nhóm Kinh tế - Quản trị - Tài chính - Kế toán chiếm tỷ trọng lớn nhất với 37,3% tổng mẫu khảo sát. Đối với thu nhập trung bình hàng tháng, nhóm từ 2 đến dưới 4 triệu đồng chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 46,1%. Nhìn chung, cơ cấu mẫu khảo sát tương đối đa dạng về giới tính, năm học, ngành đào tạo và mức thu nhập, qua đó phản ánh khá đầy đủ đặc điểm của sinh viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn nghiên cứu.

2. Đánh giá độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố

Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha cho thấy tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy và được sử dụng cho các phân tích tiếp theo. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập cho thấy dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố. Đáng chú ý, thang đo kiến thức tài chính được tách thành hai nhân tố là kiến thức tài chính cơ bản (KTTCCB) và kiến thức tài chính ứng dụng (KTTCUD). Kiến thức tài chính cơ bản phản ánh mức độ hiểu biết về các khái niệm và nguyên tắc tài chính nền tảng, trong khi kiến thức tài chính ứng dụng phản ánh khả năng vận dụng các kiến thức đó vào quá trình ra quyết định trong thực tiễn.

Phát hiện này cho thấy việc trang bị kiến thức lý thuyết đơn thuần có thể chưa đủ để cải thiện hành vi tài chính của sinh viên. Thay vào đó, các chương trình giáo dục tài chính cần chú trọng hơn đến việc tạo cơ hội cho sinh viên thực hành, giải quyết tình huống và vận dụng kiến thức vào các quyết định tài chính hằng ngày. Đây cũng là cơ sở lý giải vì sao trong kết quả hồi quy, kiến thức tài chính ứng dụng có mức độ ảnh hưởng lớn hơn kiến thức tài chính cơ bản. Kết quả này góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về cấu trúc đa chiều của kiến thức tài chính, phản ánh sự khác biệt giữa nhận thức tài chính nền tảng và năng lực vận dụng kiến thức vào các quyết định thực tế.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) đối với biến phụ thuộc cho thấy các biến quan sát về hành vi chi tiêu và tiết kiệm hội tụ thành một nhân tố duy nhất, phù hợp với đặc điểm sinh viên khi chi tiêu và tiết kiệm gắn bó chặt chẽ trong cùng một quá trình ra quyết định.

3. Kết quả phân tích hồi quy đa biến

z7974631279301_8480a04bb6ba7955581de1b203cdcbcb

Sau khi thực hiện phân tích EFA, mô hình hồi quy đa biến được xây dựng như sau:

HVCTTK = 0,108KTTCCB + 0,131KTTCUD + 0,081KNTC + 0,576TĐTC

Trong đó: HVCTTK là hành vi chi tiêu và tiết kiệm; KTTCCB là kiến thức tài chính cơ bản; KTTCUD là kiến thức tài chính ứng dụng; KNTC là kỹ năng tài chính; TĐTC là thái độ tài chính; ε là sai số ngẫu nhiên. Mô hình hồi quy với bốn biến độc lập (KTTCCB, KTTCUD, KNTC, TĐTC) cho kết quả R² = 0,501 và R² hiệu chỉnh = 0,498, nghĩa là mô hình giải thích được 49,8% sự biến thiên của hành vi chi tiêu và tiết kiệm. Kiểm định F đạt 139,509 (Sig. = 0,000), hệ số Durbin–Watson = 1,792 và các hệ số VIF < 2 xác nhận mô hình không vi phạm các giả định hồi quy.

Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ tài chính là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0,576) đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên. Phát hiện này phù hợp với lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991), theo đó thái độ tích cực đối với một hành vi sẽ góp phần thúc đẩy việc hình thành và duy trì hành vi đó trong thực tiễn. Điều này hàm ý rằng việc nâng cao hiểu biết tài chính không nên chỉ tập trung vào truyền đạt kiến thức mà cần hướng đến việc hình thành nhận thức đúng đắn và động lực tự thân trong quản lý tài chính cá nhân.

Kiến thức tài chính ứng dụng (β = 0,131) có tác động mạnh hơn kiến thức tài chính cơ bản (β = 0,108). Điều này phản ánh rằng khả năng vận dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể như lập kế hoạch chi tiêu, so sánh các lựa chọn tài chính hay đánh giá rủi ro có ý nghĩa thiết thực hơn đối với hành vi tài chính của sinh viên so với việc chỉ nắm bắt các khái niệm lý thuyết. Kết quả này đồng thời gợi ý rằng các chương trình giáo dục tài chính trong nhà trường nên tăng cường các hoạt động trải nghiệm, mô phỏng và thực hành thay vì chỉ tập trung vào nội dung lý thuyết.

Kỹ năng tài chính có ảnh hưởng thấp nhất (β = 0,081), cho thấy việc hình thành hành vi tài chính tích cực không chỉ phụ thuộc vào kỹ năng thực hiện mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ thái độ và khả năng vận dụng kiến thức tài chính trong thực tiễn.

4. Kết quả thử nghiệm giải pháp

Nhóm nghiên cứu tiến hành thử nghiệm một số giải pháp quản lý tài chính cá nhân trên 05 sinh viên nhằm đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất. Hoạt động thử nghiệm được triển khai trong tháng 3 năm 2026 và kéo dài trong 01 tháng. Các giải pháp được áp dụng bao gồm: tiết kiệm trước - chi tiêu sau, áp dụng quy tắc trì hoãn 24 giờ đối với các khoản chi không thiết yếu, ghi chép và theo dõi chi tiêu bằng ứng dụng hỗ trợ kết hợp sổ chi tiêu, đồng thời duy trì hoạt động trao đổi và nhắc nhở trong nhóm nhỏ.

Kết quả thử nghiệm cho thấy tổng thu nhập của nhóm không thay đổi, duy trì ở mức 15,5 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, tổng số tiền tiết kiệm đã tăng từ 850 nghìn đồng lên 1,85 triệu đồng, tương ứng mức tăng khoảng 117,6%. Nếu quy đổi theo tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập, trước thử nghiệm nhóm chỉ tiết kiệm được khoảng 5,48% thu nhập, trong khi sau thử nghiệm tỷ lệ này tăng lên khoảng 11,94%. Tất cả thành viên tham gia đều ghi nhận sự cải thiện về khả năng kiểm soát chi tiêu, lập kế hoạch tài chính và duy trì tiết kiệm thường xuyên.

Kết quả này cho thấy việc kết hợp đồng thời các giải pháp nhằm nâng cao thái độ tài chính, kiến thức tài chính và kỹ năng tài chính có khả năng tạo ra những chuyển biến tích cực trong hành vi tài chính của sinh viên. Mặc dù quy mô thử nghiệm còn nhỏ và thời gian thực hiện chưa dài, nhưng kết quả bước đầu đã cung cấp bằng chứng thực tiễn về tính khả thi của các giải pháp được đề xuất, đồng thời góp phần củng cố các kết luận rút ra từ mô hình hồi quy.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Nghiên cứu đã kiểm định ảnh hưởng của hiểu biết tài chính cá nhân đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn Hải Phòng. Kết quả phân tích cho thấy cả bốn nhân tố gồm kiến thức tài chính cơ bản, kiến thức tài chính ứng dụng, kỹ năng tài chính và thái độ tài chính đều có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên. Trong đó, thái độ tài chính là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp đến là kiến thức tài chính ứng dụng, kiến thức tài chính cơ bản và kỹ năng tài chính. Một phát hiện đáng chú ý của nghiên cứu là thang đo kiến thức tài chính được tách thành hai thành phần riêng biệt gồm kiến thức tài chính cơ bản và kiến thức tài chính ứng dụng, qua đó phản ánh sự khác biệt giữa hiểu biết lý thuyết và khả năng vận dụng kiến thức vào các quyết định tài chính trong thực tiễn.

Từ kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đề xuất. Đối với sinh viên, cần chủ động hình thành thái độ tài chính tích cực, coi tiết kiệm và quản lý chi tiêu hợp lý là một phần của lối sống, đồng thời thường xuyên rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức tài chính vào các quyết định tài chính hằng ngày. Đối với các cơ sở giáo dục đại học, việc giáo dục tài chính cần được triển khai theo hướng toàn diện hơn, không chỉ tập trung truyền đạt kiến thức mà còn chú trọng phát triển kỹ năng thực hành và hình thành thái độ tài chính tích cực thông qua các hoạt động trải nghiệm, mô phỏng và thực hành thực tế. Đối với các tổ chức tài chính và các đơn vị liên quan, cần tăng cường các chương trình truyền thông và giáo dục tài chính dành cho thanh niên, sinh viên theo hướng thiết thực, dễ tiếp cận và phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định. Phạm vi khảo sát mới tập trung tại Hải Phòng nên khả năng khái quát hóa kết quả cho các địa phương khác còn hạn chế. Hoạt động thử nghiệm giải pháp được thực hiện trên quy mô nhỏ nên kết quả mới mang tính tham khảo ban đầu. Trong thời gian tới, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi khảo sát, tăng kích thước mẫu, đồng thời đánh giá hiệu quả của các giải pháp được đề xuất trên các nhóm sinh viên khác nhau để có cơ sở so sánh toàn diện hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211.

2. Eccles, J. S., & Wigfield, A. (2002). Motivational beliefs, values, and goals. Annual Review of Psychology, 53, 109–132.

3. Hilgert, M. A., Hogarth, J. M., & Beverly, S. G. (2003). Household financial management: The connection between knowledge and behavior. Federal Reserve Bulletin, 89(7), 309–322.

4. Huston, S. J. (2010), Measuring Financial Literacy, Journal of Consumer Affairs.

5. Lusardi, A., & Mitchell, O. S. (2014), The Economic Importance of Financial Literacy, Journal of Economic Literature.

6. Nguyễn Thị Hoài Lê (2023), Kiến thức tài chính của sinh viên Việt Nam: Thực trạng và các vấn đề đặt ra, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, số 254 (7/2023).

7. Vũ Thị Mai, Nguyễn Thị Hải Hạnh, Trần Thị Hồng Thắm, Trần Ngọc Bảo Linh, Lê Uyển Nhi (2021), Tác động của hiểu biết tài chính đến hành vi quản lý tài chính cá nhân của sinh viên, Tạp chí Kinh tế & Phát triển.

8. Xiao, J. J. (2008). Applying behavior theories to financial behavior. In J. J. Xiao (Ed.), Handbook of Consumer Finance Research (pp. 69–81). Springer.

ThS. Đỗ Thị Phương Thảo*, Hoàng Khánh Linh, Phạm Minh Hạnh, Phạm Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Thùy Linh, Nguyễn Thùy Trang

Khoa Kế toán – Tài chính, Trường Đại học Hải Phòng

* Email: [email protected]

Tạp chí in số tháng 6/2026

Bạn đang đọc bài viết Ảnh hưởng của hiểu biết tài chính cá nhân đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của sinh viên tại Hải Phòng tại chuyên mục Bài báo khoa học của Tạp chí Tài chính doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác:

email: [email protected], hotline: 086 508 6899

Tin liên quan

Mô hình đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia cuộc thi Khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên
Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận và các lý thuyết liên quan đến cuộc thi khởi nghiệp nông nghiệp trong môi trường Đại học, qua đó đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia cuộc thi Khởi nghiệp Nông nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.