Bác sỹ Nguyễn Duy Ánh với tầm nhìn khu vực và quốc tế
TCDN - Theo GS Nguyễn Duy Ánh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương là đơn vị hàng đầu tuyến cuối của Việt Nam, đảm nhận trọng trách chỉ đạo tuyến toàn quốc. Với vị trí và sứ mệnh như vậy, chúng tôi phải có tầm nhìn khu vực và quốc tế.
TTND.GS.TS Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương đồng thời là Phó hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Chủ nhiệm Bộ môn Phụ sản (Trường Đại học Y Hà Nội).
Với hơn 35 năm cống hiến cho chuyên ngành Sản phụ khoa, GS Nguyễn Duy Ánh đã có hơn 140 công trình nghiên cứu khoa học, 10 đầu sách chuyên sâu, 28 đề tài khoa học (trong đó có 1 đề tài cấp Nhà nước, 7 đề tài cấp Bộ và Thành phố). Giáo sư là chủ tọa, báo cáo viên thường xuyên tại các hội nghị y khoa trong nước và quốc tế uy tín như FIGO, ESHRE, ISUOG, FMF, ESGO, COGI, AOFOG, góp phần đưa hình ảnh y học Việt Nam vươn tầm thế giới.
TTND.GS.TS Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Trong cuộc trò chuyện với báo chí, GS Nguyễn Duy Ánh đã chia sẻ cơ duyên đến với nghề, đến với những ca bệnh khó, chuyện gia đình cũng như những nỗ lực không ngừng đóng góp cho chuyên ngành sản phụ khoa để đạt kỳ vọng vươn tầm khu vực và thế giới.
Cơ duyên đến với nghề y
GS Nguyễn Duy Ánh: Tôi không biết với những người thầy thuốc khác thế nào, mỗi người có một cơ duyên, cũng có người may mắn được ai đó đi trước dẫn dắt, chỉ bảo, nhưng đúng là nên dùng một từ cơ duyên với tôi. Trước đây, chọn chuyên ngành mông lung lắm, nó không có khái niệm gì đâu, cứ đi ngành y thôi chứ cũng không có ai định hướng cho mình và cũng rất ít sự lựa chọn. Bây giờ ai muốn biết gì rất dễ tìm hiểu trên không gian mạng, còn thời chúng tôi thì không có cơ hội đó.
Khi tôi đi ngành y khoa và thi đỗ nội trú việc phân chuyên khoa không có cơ chế lựa chọn như hiện nay. Việc phân công là của trường, đồng ý tiếp nhận hay không là của bộ môn. Tôi viết đơn đi theo ngành Sản, lúc đó Giáo sư Dương Thị Cương là Viện trưởng Viện sản Trung ương, chủ nhiệm bộ môn Sản (Đại học Y Hà Nội) người thầy tận tụy và mẫu mực, có tâm hồn và nhân cách lớn, là người với nhiều cống hiến lớn cho việc bảo vệ sức khỏe phụ nữ và bà mẹ Việt Nam.
Tôi nghĩ, sau này mình làm nghề đỡ đẻ, và sau khi vào học y thì mới biết đó là chuyên ngành sản. Ngành sản sẽ giúp được những người phụ nữ như vậy. Khi tôi kể câu chuyện đó với GS Dương Thị Cương thì cô cười oà lên và bảo: “Ồ! hóa ra là như vậy. Cô đồng ý cho em đi ngành sản và mong em sẽ cố gắng”. Ngày đó để đỗ được bác sĩ nội trú khó lắm, cả khoá tôi chỉ có 15 bác sĩ đỗ nội trú. Ngành sản mỗi năm chỉ chọn 1-2 người, hiếm hoi, khó khăn lắm.
Người đặt nền móng cho Y học bào thai tại Việt Nam
GS Nguyễn Duy Ánh: Trong ngành sản phụ khoa điều dễ hiểu nhất mà chúng ta nhận thấy gồm có bà mẹ và thai nhi. Đó là sản khoa, còn phụ khoa thì rất nhiều vấn đề, từ những bệnh lý đơn thuần của phụ khoa, cho đến bệnh lý ung thư, nội tiết… Đây là những vấn đề rất khó trong sản phụ khoa.
Trong Sản khoa, lĩnh vực lớn nhất trên thế giới và cũng là lĩnh vực khó là y học bào thai. Bởi lẽ, trước đây không ai quan tâm đến việc chữa chạy cho bào thai, mọi người cho rằng đó là “vùng cấm” không ai được đụng vào, hữu có hữu sinh (sinh đẻ tự nhiên), người thầy thuốc chỉ đóng vai vào lúc sinh nở.
Tuy nhiên, đến nay không phải như vậy, ngành y học coi bào thai là người bệnh, đã là người bệnh thì phải chăm sóc, khám và được chữa bệnh. Chính vì vậy y học bào thai đã phát triển, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn đứa trẻ mà đáng lý ra trước đây nếu chưa có y học bào thai hàng nghìn đứa trẻ đó sẽ bị bệnh khi đang trong bào thai. Bệnh này có thể làm trẻ chậm phát triển, làm cho bé bệnh nặng dần lên, trở thành tật nguyền sau khi sinh và không thể hoà nhập được với cộng đồng. Thậm chí, bị chết lưu trong tử cung, nếu chúng ta có y học bào thai thì hàng nghìn trẻ sẽ không bị như vậy. Chính vì vậy, đây là lĩnh vực chúng ta phải quan tâm.
Khi chúng tôi tiếp cận với điều này trên thế giới họ đã đi trước chúng ta 10-20 năm rồi. Vì vậy phải hết sức nhanh chóng đưa công nghệ này về Việt Nam để tăng cơ hội cứu sống bào thai. Tôi là một trong những người đi học đầu tiên tại Bệnh viện Bệnh viện Necker-Enfants Malades (Pháp) – Một trong những trung tâm hàng đầu và lớn nhất Châu Âu về chẩn đoán trước sinh và can thiệp bào thai và để đón nhận những kỹ thuật này chuyển về Bệnh viện Phụ sản Hà Nội – nơi tôi từng công tác.
Tôi mang kỹ thuật này về Hà Nội và cũng nhờ kỹ thuật này không chỉ nhân dân Thủ đô mà nhân dân cả nước cũng đã tìm đến chúng tôi và mỗi năm không biết bao nhiêu thai phụ đã được kịp thời gửi đến. Đành rằng trong giai đoạn đầu sự phối hợp giữa các tuyến chưa ăn ý do lĩnh vực còn mới.
Tuy nhiên, có hàng trăm trẻ được cứu sống mỗi năm qua can thiệp bào thai. Tôi cũng mở được rất nhiều lớp đào tạo để tất cả các tuyến khi sàng lọc và chẩn đoán có bệnh nhân gửi lên tuyến trên vào thời điểm thích hợp, kịp thời cữu chữa các bào thai có những bệnh lý cần can thiệp.
Đồng thời, tôi không ngừng cập nhật, nâng cao kiến thức lĩnh vực này thông qua các hội nghị quốc tế được tổ chức tại Việt Nam với sự tham gia của nhiều chuyên gia hàng đầu thế giới.
Tầm nhìn khu vực và quốc tế
GS Nguyễn Duy Ánh: Trong năm tới đây chúng tôi xác định rõ, Bệnh viện Phụ sản Trung ương là đơn vị hàng đầu tuyến cuối của Việt Nam, đảm nhận trọng trách chỉ đạo tuyến toàn quốc. Với vị trí và sứ mệnh như vậy chúng tôi cũng phải nhìn thấy mình muốn giúp đỡ được cho toàn ngành làm sao có cùng tiếng nói chung, có cùng kiến thức y khoa tốt nhất, cập nhật nhất để làm sao mình phục vụ người dân bằng những gì tốt nhất có thể.
Điều đó có nghĩa chúng tôi phải có tầm nhìn khu vực và quốc tế. Không thể nào chỉ mỗi cạnh tranh ở trong nước, khu vực? Thế giới làm được gì? Câu hỏi rất lớn cho chúng tôi đó là: Tại sao mình không làm được? Mình còn thiếu cái gì? Mình cần cái gì để làm được những kỹ thuật đó để mang về phục vụ nhân dân.
Hơn nữa, trong y khoa không thể bỏ qua cụ thể đặc thù ở từng bệnh viện. Với bệnh viện chúng tôi đặt ra 6 mũi nhọn và giá trị cốt lõi rất rõ ràng. Để các mũi nhọn phải nhọn thật sự, giá trị cốt lõi phải cốt lõi thật sự thì mỗi ngày ngày, mỗi giờ, mỗi con người của bệnh viện phải luôn luôn tu dưỡng, bồi đắp cho sự nghiệp bệnh viện.
Bệnh viện đang tập trung vào phát triển các lĩnh vực sàng lọc, chẩn đoán tiền hôn nhân trước sinh, sàng lọc phát hiện bệnh lý sản phụ khoa nghiêm trọng, tư vấn sàng lọc phát hiện sớm ung thư phụ khoa, ung thư vú, cổ tử cung, hỗ trợ sinh sản, sơ sinh, y học bào thai, tế bào gốc…
Chúng tôi khẳng định, định hướng phát triển về nghiên cứu khoa học công nghệ. Có lẽ rằng nói gì thì nói, y khoa nước nhà do rất nhiều yếu tố từ những năm tháng chiến tranh đất nước còn nhiều thốn cho đến việc đi sau rất nhiều nước nên chưa thể nói ngang tầm y khoa các nước tiên tiến trên thế giới được. Vậy mình phải tiệm cận bằng cách bắt tay với họ, cùng với họ nghiên cứu, thực hành để có những kết quả nghiên cứu làm thay đổi thực hành hiện nay để người bệnh chăm sóc tốt hơn.
Cùng bệnh đó cách đây vài năm thôi tỷ lệ tai biến, tỷ lệ chết rất khủng khiếp. Thế nhưng, sau khi có kết quả nghiên cứu của cộng đồng quốc tế như bệnh tiền sản giật. Mỗi bệnh xuất hiện sàng lọc mất vài trăm nghìn đồng là chúng ta dự phòng được 70%, trong khi ngày trước là một trong những tai biến sản khoa đứng thứ 2 gây tử vong mẹ và tử vong chu sinh rất khủng khiếp.
Họ rất cần chúng ta bởi chúng ta có nguồn bệnh nhân đông hơn, đa dạng bệnh lý hơn, nghiên cứu phù hợp với bệnh lý đang có ở mình, rất tiện, rất hay. Bệnh viện Phụ sản Trung ương coi đây là mũi nhọn hàng đầu. Bệnh viện có tiến lên, toả sáng hay không không phải khoe bao nhiêu ca đẻ, ca mổ, cái cần là tìm ra cái gì mới mẻ, áp dụng lâm sàng trong điều trị.
email: [email protected], hotline: 086 508 6899
Tag:












