Diễn đàn về chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu

18/09/2026, 06:48
chia sẻ bài viết
báo nói -

TCDN - Trước những thay đổi nhanh chóng của chuỗi cung ứng toàn cầu, Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” đã mang đến những phân tích về xu hướng mới, đồng thời trao đổi giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Diễn đàn diễn ra từ 8h00 đến 12h00 ngày 18/9/2026 tại Trung tâm Hội nghị 37 Hùng Vương (số 35 Hùng Vương, Hà Nội).

Trong những năm gần đây, chuỗi cung ứng toàn cầu đang có những thay đổi sâu sắc dưới tác động của quá trình tái cấu trúc sản xuất, cạnh tranh thương mại, xung đột địa chính trị và yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung. Xu hướng dịch chuyển sản xuất và tìm kiếm các địa điểm đầu tư mới đang mở ra cơ hội để Việt Nam nâng cao vai trò trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Toàn cảnh Diễn đàn Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.

Toàn cảnh Diễn đàn Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.

Với độ mở kinh tế cao, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng, vị trí địa kinh tế thuận lợi và năng lực sản xuất ngày càng được cải thiện, Việt Nam đang đứng trước cơ hội thu hút thêm dòng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất và tăng cường kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.

Tuy nhiên, để chuyển cơ hội thành giá trị thực chất, doanh nghiệp Việt Nam cần tiếp tục nâng cao năng lực công nghệ, quản trị, nguồn nhân lực, chuyển đổi số, logistics và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt, việc nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI được xem là những yếu tố quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ thực tế đó, Diễn đàn sẽ tập trung thảo luận về bối cảnh chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và định hướng chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời trao đổi các giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường liên kết và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chương trình có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp. Các diễn giả gồm GS.TS Hoàng Văn Cường - Nguyên ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội; Ông Phạm Văn Quân - Phó cục trưởng Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương; Bà Lê Thị Duyên Hải - Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam; TS. Đỗ Diệu Hương – Phó giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới; ThS. Nguyễn Anh Dương - Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược; Ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng giám đốc công ty TNHH Xúc tiến xuất khẩu VIETGO.

Empty
Diễn đàn góp mặt nhiều chuyên gia và nhà hoạch định chính sách.

Diễn đàn góp mặt nhiều chuyên gia và nhà hoạch định chính sách.

Bên cạnh các chuyên gia và nhà hoạch định chính sách, diễn đàn dự kiến có sự tham dự của đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp FDI, tổ chức tài chính, ngân hàng, logistics và các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Diễn đàn cũng hút nhiều đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp FDI, tổ chức tài chính, ngân hàng, logistics và các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Diễn đàn cũng hút nhiều đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp FDI, tổ chức tài chính, ngân hàng, logistics và các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Thông qua các tham luận và phiên trao đổi, Diễn đàn hướng tới cung cấp thêm góc nhìn về những thay đổi của chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó góp phần tìm kiếm các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Phát biểu khai mạc diễn đàn, TS. Hà Khắc Minh – Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, cho rằng trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, chuỗi cung ứng toàn cầu đang điều chỉnh mạnh mẽ dưới tác động của địa chính trị, chính sách thương mại, công nghệ, xu hướng xanh hóa và yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Ông Hà Khắc Minh – Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính doanh nghiệp phát biểu khai mạc diễn đàn.

Ông Hà Khắc Minh – Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính doanh nghiệp phát biểu khai mạc diễn đàn.

Theo ông, quá trình dịch chuyển này vừa tạo ra những thách thức mới, vừa mở ra cơ hội để các quốc gia và doanh nghiệp tái định vị trong mạng lưới sản xuất, thương mại toàn cầu. Với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở cao và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đây là cơ hội để thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị quốc tế.

Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ, cải thiện quản trị và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Do đó, theo ông Hà Khắc Minh, cả cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động nhận diện xu hướng, nắm bắt cơ hội và chuẩn bị năng lực thích ứng.

Diễn đàn được tổ chức nhằm góp phần triển khai các mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 8/1/2026 của Chính phủ, đồng thời tạo không gian trao đổi, kết nối giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, hiệp hội, ngân hàng và doanh nghiệp.

Ông kỳ vọng các phiên thảo luận sẽ làm rõ những xu hướng mới của chuỗi cung ứng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và những giải pháp cụ thể để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đó, cần tăng cường kết nối chính sách – doanh nghiệp – thị trường, đồng thời phát triển đồng bộ hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghệ, logistics và môi trường kinh doanh.

“Đây không chỉ là câu chuyện của từng doanh nghiệp, mà còn là yêu cầu đối với cả hệ sinh thái kinh tế”, thông điệp xuyên suốt từ phần phát biểu khai mạc.

Thay mặt Ban Tổ chức, ông Hà Khắc Minh trân trọng cảm ơn các đại biểu, chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan báo chí đã tham dự, đồng thời cảm ơn các đơn vị đồng hành: Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, Tổng Công ty Khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng Công ty Lọc hóa Dầu Việt Nam.

Tại Phiên 1, các chuyên gia tập trung phân tích xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, những tác động và cơ hội đối với Việt Nam, đồng thời trao đổi về các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với những thay đổi của thị trường.

Dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

Chia sẻ tại diễn đàn về xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và những tác động, cơ hội đối với Việt Nam trong bối cảnh kinh tế mới, ThS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, cho biết Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tích cực trong thu hút FDI, với các dòng vốn lớn đến từ Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc.

ThS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược.

ThS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược.

Năm 2025, Singapore dẫn đầu với 6,98 tỷ USD, tiếp đến là Trung Quốc 5,19 tỷ USD và Hàn Quốc 4,20 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các đối tác đầu tư chủ yếu của Việt Nam gồm Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Trung Quốc và Nhật Bản.

Theo ông Nguyễn Anh Dương, dòng vốn FDI, đặc biệt từ khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, cải thiện liên kết kinh tế và nâng cao hiệu quả thực thi các FTA. Doanh nghiệp FDI cũng có thể góp phần hình thành hệ sinh thái sản xuất dọc các hành lang, vành đai kinh tế, đồng thời thúc đẩy phát triển các trung tâm logistics quốc tế.

Bên cạnh đó, Việt Nam có cơ hội đẩy mạnh kết nối số với các nền kinh tế trong khu vực, phát triển thương mại không giấy tờ và các nền tảng xử lý tranh chấp thương mại trực tuyến, qua đó giảm chi phí và nâng cao hiệu quả giao thương xuyên biên giới.

Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối diện nhiều thách thức, trong đó có chính sách thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ từ năm 2025, các tiêu chí kỹ thuật nhằm hạn chế việc sử dụng đầu vào từ nền kinh tế thứ ba, cạnh tranh thu hút FDI giữa các nước ASEAN và tình trạng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.

Ông Nguyễn Anh Dương kiến nghị thu hút FDI có chọn lọc, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước, đồng thời nâng cao năng lực logistics, hạ tầng số và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Ông Nguyễn Anh Dương kiến nghị thu hút FDI có chọn lọc, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước, đồng thời nâng cao năng lực logistics, hạ tầng số và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Từ thực tế này, ông Nguyễn Anh Dương kiến nghị chuyển từ tư duy thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và có khả năng tạo liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời, cần phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp tư nhân, logistics, hạ tầng số và năng lượng; tăng cường quản lý rủi ro về xuất xứ, phòng vệ thương mại, đa dạng hóa thị trường và xây dựng hệ sinh thái sản xuất có khả năng chống chịu cao.

Chính sách thuế thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực, thích ứng sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu

Theo bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam, hệ thống chính sách thuế hiện đã có nhiều ưu đãi quan trọng nhằm khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ và xuất khẩu. Trong đó có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 10% trong 15 năm đối với một số lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, AI; cơ chế tính chi phí R&D tối đa 200%; chính sách hoàn thuế GTGT đối với hàng xuất khẩu đạt khoảng 120.000-130.000 tỷ đồng mỗi năm.

Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam.

Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam.

Tuy nhiên, bà Hải cho rằng chính sách hiện hành vẫn còn những điểm cần tiếp tục hoàn thiện. Hàng xuất khẩu chủ lực của doanh nghiệp nội địa vẫn tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng thấp như may mặc, thủy sản, nông sản, trong khi lĩnh vực điện tử và linh kiện chủ yếu do doanh nghiệp FDI đảm nhiệm.

Việc ưu đãi thuế còn phụ thuộc nhiều vào địa bàn hoặc quy mô vốn, chưa thực sự tạo động lực đủ mạnh cho nâng cao năng lực công nghệ. Trong khi đó, thiếu các tiêu chí gắn với kết quả đầu ra như R&D, năng suất, tỷ lệ nội địa hóa có thể khiến Việt Nam gặp khó trong việc chuyển từ lợi thế lắp ráp sang tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.

Trước xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, bà Hải đề xuất chuyển trọng tâm chính sách thuế từ “thu hút đầu tư” sang “nâng cấp năng lực doanh nghiệp Việt”, với hệ thống ưu đãi xoay quanh chuỗi công nghệ – R&D – nhân lực – chuỗi cung ứng – thị trường toàn cầu, đồng thời gắn ưu đãi với các tiêu chí đầu ra cụ thể.

Bà Lê Thị Duyên Hải đề xuất 8 nhóm giải pháp chính sách thuế nhằm nâng cấp năng lực doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bà Lê Thị Duyên Hải đề xuất 8 nhóm giải pháp chính sách thuế nhằm nâng cấp năng lực doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Để thực hiện định hướng này, bà Hải đưa ra 8 nhóm giải pháp:

Thứ nhất, tăng cường ưu đãi R&D, cho phép khấu trừ thuế 10-20% và chuyển phần chưa khấu trừ hết sang các năm tiếp theo, hỗ trợ doanh nghiệp chưa có lợi nhuận.

Thứ hai, cho phép khấu hao nhanh máy móc và AI, tối đa 2 lần đối với thiết bị tự động hóa, robot, AI và công nghệ xanh, qua đó cải thiện dòng tiền trong giai đoạn đầu tư.

Thứ ba, thiết kế ưu đãi thuế TNDN cho chuỗi cung ứng, với thuế suất 10-12% hoặc giảm thuế trên phần doanh thu tăng thêm đối với doanh nghiệp Việt đáp ứng tiêu chuẩn cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ tư, đổi mới ưu đãi đối với công nghiệp hỗ trợ, chuyển từ ưu đãi theo sản phẩm sang dựa trên tiêu chí kỹ thuật, tỷ lệ nội địa hóa và năng lực cung ứng thực tế, nhất là trong các ngành bán dẫn, ô tô, cơ khí.

Thứ năm, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận các đơn hàng dịch chuyển, thông qua các gói ưu đãi về khấu hao nhanh, giảm 10% thuế đầu tư máy móc và ưu đãi thuế TNDN trong 3-5 năm đối với các hợp đồng cung ứng mới.

Thứ sáu, cải cách hoàn thuế GTGT, nghiên cứu áp dụng hoàn thuế tự động dựa trên mức độ tuân thủ, đồng thời xem xét cơ chế không thu/không hoàn đối với máy móc, thiết bị của các dự án trọng điểm nhằm giải phóng nguồn vốn cho doanh nghiệp.

Thứ bảy, mở rộng miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư, máy móc tự động hóa, AI và thiết bị kiểm thử mà trong nước chưa sản xuất được.

Thứ tám, khuyến khích đào tạo nhân lực, cho phép tính chi phí được trừ đối với hoạt động đào tạo kỹ thuật cao, chuyển đổi số, quản trị chuỗi cung ứng và các tiêu chuẩn ESG.

Theo bà Hải, tổng thể các chính sách cần được thiết kế theo hướng minh bạch, dễ quản lý, phù hợp cam kết quốc tế và bảo đảm tính trung lập của thuế, qua đó tạo động lực thực chất để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực và tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tại Phiên 2, các diễn giả tập trung từ góc nhìn doanh nghiệp, phân tích những yêu cầu để nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, từ phát triển công nghiệp hỗ trợ, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế đến chủ động nắm bắt cơ hội đơn hàng và mở rộng thị trường.

Phát triển công nghiệp hỗ trợ thu hút sự tham gia và làm chủ chuỗi giá trị cho doanh nghiệp Việt

Chia sẻ tại diễn đàn, TS. Phạm Văn Quân, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), cho rằng sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về quy mô và năng lực của nền kinh tế. GDP danh nghĩa năm 2025 đạt khoảng 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 5.026 USD. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18%; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9%, riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 12,5%. Những kết quả này cho thấy công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế.

TS. Phạm Văn Quân, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương).

TS. Phạm Văn Quân, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương).

Tuy nhiên, theo TS. Phạm Văn Quân, cùng với tốc độ tăng trưởng, vấn đề đặt ra là làm thế nào nâng cao chất lượng tăng trưởng, gia tăng phần giá trị được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam. Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp FDI hiện chiếm khoảng 79,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 20,1%. Cơ cấu này cho thấy mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn còn hạn chế.

Từ thực tế trên, TS. Phạm Văn Quân cho rằng Việt Nam cần từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào gia công, lắp ráp sang phát triển năng lực sản xuất trong nước, trong đó công nghiệp hỗ trợ giữ vai trò quan trọng. Việc nâng tỷ lệ nội địa hóa không chỉ giúp doanh nghiệp trong nước tăng khả năng cung ứng linh kiện, nguyên vật liệu và sản phẩm đầu vào, mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia.

Theo ông Quân, để thực hiện mục tiêu này, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là tiếp tục cải cách thể chế, hoàn thiện chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất. Cùng với đó, tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới doanh nghiệp cung ứng nội địa và nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cần được thúc đẩy mạnh mẽ trong sản xuất công nghiệp. Đây không chỉ là yêu cầu để đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế mà còn là cơ hội để doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.

Đáng chú ý, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành công nghiệp then chốt như điện tử, cơ khí, ô tô, dệt may và da giày. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế tạo thị trường cho sản phẩm sản xuất trong nước, cơ quan quản lý cũng định hướng xây dựng nền tảng dữ liệu số phục vụ quản lý chuỗi cung ứng.

Theo TS. Phạm Văn Quân, phát triển công nghiệp hỗ trợ là một trong những giải pháp quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, gia tăng giá trị sản xuất trong nước và củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu

Chia sẻ về năng lực doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu, TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho rằng Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu vào mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh về thương mại và xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nước được nâng cao tương ứng về vị thế và khả năng tạo giá trị trong chuỗi.

TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách.

TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách.

Theo phân tích, giai đoạn 2021-2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng từ 336,25 tỷ USD lên 475,04 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2025, khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực FDI chiếm 77,3%. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023.

TS. Đỗ Diệu Hương nhấn mạnh, yêu cầu đối với nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở rộng nhanh chóng. Bên cạnh chất lượng, giá thành, quy mô và độ tin cậy giao hàng, doanh nghiệp ngày càng phải đáp ứng các yêu cầu về nguồn gốc nguyên liệu, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, sử dụng năng lượng, môi trường, lao động và quản trị rủi ro.

Điều này khiến bài toán năng lực doanh nghiệp thay đổi. Doanh nghiệp không chỉ cần tạo ra sản phẩm đạt yêu cầu tại thời điểm giao hàng mà còn phải có hệ thống quản trị, quy trình và dữ liệu đủ khả năng chứng minh và duy trì sự phù hợp trong suốt quá trình cung ứng.

Từ đó, tham luận đề xuất 5 nhóm năng lực nền tảng gồm: chất lượng - công nghệ - năng suất; chi phí - quy mô - độ tin cậy giao hàng; quản trị - dữ liệu - truy xuất nguồn gốc; môi trường - carbon - lao động và trách nhiệm xã hội; đổi mới - thích ứng - chống chịu.

Đáng chú ý, TS. Đỗ Diệu Hương đưa ra khái niệm “khoảng cách tiêu chuẩn”, được hiểu là khoảng cách giữa năng lực hiện có của doanh nghiệp và năng lực cần thiết để đáp ứng, chứng minh và duy trì yêu cầu của một thị trường, chuỗi cung ứng hoặc doanh nghiệp dẫn dắt cụ thể. Theo đó, trọng tâm không chỉ là xác định doanh nghiệp “mạnh hay yếu”, mà phải nhận diện chính xác những năng lực còn thiếu và điểm nghẽn cần ưu tiên để doanh nghiệp có thể gia nhập, duy trì và từng bước nâng cấp vị trí trong chuỗi. 

Từ cơ hội đến đơn hàng: Doanh nghiệp Việt cần vừa nâng chuẩn, vừa nâng năng lực bán hàng toàn cầu 

Tại diễn đàn, ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, cho rằng Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội khi chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục dịch chuyển, các nhà mua hàng quốc tế ngày càng đa dạng hóa nguồn cung. Tuy nhiên, cơ hội chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành những đơn hàng xuất khẩu cụ thể.

Theo ông Việt, Việt Nam có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cảng biển và khả năng kết nối với các tuyến hàng hải quốc tế. Những lợi thế này giúp rút ngắn thời gian giao hàng, giảm chi phí logistics và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa. Bên cạnh đó, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP mở ra thêm dư địa để doanh nghiệp tiếp cận các thị trường lớn.

Ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO.

Ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO.

Tuy nhiên, điểm nghẽn không chỉ nằm ở năng lực sản xuất mà còn ở năng lực bán hàng quốc tế. Nhiều doanh nghiệp Việt đã đầu tư vào nhà máy, máy móc và vùng nguyên liệu nhưng còn thiếu đội ngũ có khả năng tìm kiếm buyer, đàm phán, tổ chức nguồn hàng và đưa sản phẩm ra thị trường toàn cầu.

Từ thực tế hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến xuất khẩu, ông Việt cho rằng cần chú trọng phát triển các doanh nghiệp thương mại xuất khẩu, được xem như “đội ngũ bán hàng của nền kinh tế”. Lực lượng này có vai trò kết nối nhà sản xuất với buyer quốc tế, tổ chức nguồn hàng, mở rộng thị trường và góp phần đưa sản phẩm Việt Nam tiếp cận trực tiếp hơn với khách hàng toàn cầu.

Một vấn đề khác được ông Việt lưu ý là khả năng tận dụng các FTA. Doanh nghiệp cần nắm chắc quy tắc xuất xứ, chủ động lựa chọn nguồn nguyên liệu, nguyên phụ liệu phù hợp để tận dụng ưu đãi thuế quan. Đồng thời, chính sách thuế, trong đó có thuế GTGT, cũng cần được thiết kế phù hợp để không làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại xuất khẩu trong nước.

Về thị trường, ông Việt đề cập một số nhóm hàng có tiềm năng như nông sản, gia vị, hoa quả tươi và chế biến, vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì dàn trải, cần lựa chọn thị trường phù hợp với năng lực hiện tại, từng bước nâng cấp khả năng đáp ứng.

Như vậy, cùng với yêu cầu sản xuất đạt chuẩn, doanh nghiệp Việt cần nâng năng lực thương mại quốc tế, chủ động tìm kiếm khách hàng và biến lợi thế từ dịch chuyển chuỗi cung ứng thành đơn hàng, qua đó từng bước gia tăng giá trị giữ lại trong chuỗi toàn cầu.

Tọa đàm giải pháp đưa doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu 

Tiếp nối các phiên tham luận, phiên tọa đàm với chủ đề “Giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu” tập trung trao đổi về những cơ hội, thách thức và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang có nhiều thay đổi.

Các chuyên gia cùng thảo luận về yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), đồng thời nâng cao năng lực tiếp cận thị trường và bán hàng quốc tế.

Các diễn giả tham gia tọa đàm Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam.

Các diễn giả tham gia tọa đàm Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam.

Phiên tọa đàm có sự tham gia của GS.TS Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội; ThS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và Hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược; TS. Đỗ Diệu Hương, Phó giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới; bà Đỗ Thị Thúy Hương – Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam; ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO; và TS. Hà Khắc Minh, Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp.

Thông qua đối thoại trực tiếp, phiên tọa đàm hướng tới làm rõ những điểm nghẽn đang hạn chế sự tham gia của doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời đề xuất các giải pháp từ góc độ chính sách, doanh nghiệp và thị trường, qua đó góp phần biến các cơ hội từ quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng thành năng lực và giá trị thực tế cho doanh nghiệp Việt Nam.

Bàn về xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, GS.TS Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội nhận định có 3 động lực chính: chính sách thuế quan (như thời kỳ căng thẳng Mỹ - Trung và các điều chỉnh thuế dưới thời Tổng thống Trump), xung đột địa chính trị gây rủi ro đứt gãy cung ứng, và sự phát triển của các công nghệ mới (như AI, công nghệ số) nơi không quốc gia nào nắm trọn quy trình. Do đó, dòng vốn quốc tế đang có xu hướng di chuyển đến những nơi cung cấp môi trường an toàn, tin cậy và sở hữu hệ sinh thái phù hợp để nhanh chóng ứng dụng công nghệ hiệu quả.

GS.TS Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội.

GS.TS Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội.

Về phía nhà nước, Việt Nam cần chuyển từ ưu đãi thuế sang cải thiện thể chế, áp dụng cơ chế "một đầu mối" duy nhất có thẩm quyền quyết định để xử lý nhanh thủ tục và chủ động săn tìm nhà đầu tư. Đặc biệt, Việt Nam phải nâng cao năng lực làm chủ các luồng Logistics và vận tải để biến lợi thế địa kinh tế thành giá trị thực, thay vì chỉ khai thác mặt bằng hay cho thuê hạ tầng. Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi FDI phải gắn chặt với kết quả đầu ra, cụ thể là hiệu quả đào tạo, chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng.

Về phía doanh nghiệp trong nước, bản thân các đơn vị nội địa phải chủ động nâng tầm năng lực để song hành cùng khối FDI. Thay vì cố gắng tham gia vào tất cả các khâu (như sản xuất toàn bộ phần cơ khí của robot), doanh nghiệp Việt nên tập trung vào các khâu thế mạnh hoặc còn khoảng trống mang giá trị gia tăng cao (như trí tuệ, phần mềm điều khiển). Từ việc liên kết song hành, doanh nghiệp sẽ từng bước hấp thụ, cải tiến và tiến tới tự chủ phát triển công nghệ mới.            

Trả lời câu hỏi về việc doanh nghiệp điện tử Việt Nam đang “dấn thân” vào chuỗi cung ứng toàn cầu như thế nào, trong bối cảnh Phó thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu doanh nghiệp FDI chủ động phát triển hệ sinh thái tại Việt Nam, mở rộng nhà cung cấp trong nước, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam, cho biết doanh nghiệp Việt đang từng bước nâng vị thế trong chuỗi giá trị.

Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam, cho biết doanh nghiệp Việt đang từng bước nâng vị thế trong chuỗi giá trị.

Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam, cho biết doanh nghiệp Việt đang từng bước nâng vị thế trong chuỗi giá trị.

Theo bà Hương, điện tử đang trở thành một trong những ngành có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn của công nghiệp chế biến, chế tạo. Việc nhập khẩu máy móc, dây chuyền, thiết bị phục vụ sản xuất tăng cũng khiến nhập siêu của ngành tăng về mặt cơ học, nhưng đây là quá trình đầu tư nhằm nâng cao năng lực sản xuất và tạo giá trị gia tăng trong dài hạn.

Đáng chú ý, doanh nghiệp Việt không còn chỉ tham gia các khâu giá trị thấp như bao bì, tem nhãn, đóng gói, mà đã từng bước tiến lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế, nghiên cứu và phát triển (R&D), sản xuất linh kiện, vi cơ khí chính xác, phần mềm công nghiệp và tự động hóa, với vai trò nhà cung cấp Tier 1, Tier 2.

Một số doanh nghiệp Việt như Hanel PT, Viet A đã tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Đến đầu năm 2025, riêng Samsung đã có 306 nhà cung cấp nội địa là doanh nghiệp Việt Nam.

Theo bà Hương, mục tiêu thời gian tới không chỉ là gia tăng số lượng mà quan trọng hơn là nâng chất lượng nhà cung cấp, mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp Việt vào các khâu có giá trị gia tăng cao, đồng thời thúc đẩy liên kết thực chất và bền vững với khu vực FDI.

Bổ sung góc nhìn về cách doanh nghiệp Việt, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ThS Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, cho rằng yếu tố quan trọng trước hết nằm ở tư duy và cách tiếp cận của chính doanh nghiệp.

ThS Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược.

ThS Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược.

Theo ông Dương, thay vì chỉ tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ quốc tế để tìm hiểu thị trường, doanh nghiệp cần xác định rõ mục tiêu, KPI và kế hoạch tiếp nối sau mỗi hoạt động, như số lượng khách hàng cần kết nối và khả năng chuyển hóa các kết nối thành đơn hàng.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần hiểu rõ vị trí của mình trong chuỗi cung ứng và chủ động tiếp cận đúng đối tượng, đúng cấp độ. Việc chỉ dừng ở một mắt xích thấp trong chuỗi mà không có chiến lược tiếp cận các doanh nghiệp ở cấp cao hơn sẽ khó tạo ra đơn hàng bền vững.

Một thách thức khác là năng lực đáp ứng các đơn hàng lớn và ổn định. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, giải pháp có thể là tăng cường liên kết, hợp tác với nhau hoặc với doanh nghiệp lớn để cùng đáp ứng những đơn hàng vượt quá năng lực của từng đơn vị. Theo ông Dương, kinh nghiệm từ Đài Loan cho thấy mô hình này có thể phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, để triển khai tại Việt Nam, cần tăng cường vai trò kết nối, hỗ trợ của các hiệp hội và tổ chức liên quan, đồng thời xây dựng niềm tin giữa các doanh nghiệp.

Luật sư Phan Huy Đức đặt vấn đề, trong bối cảnh lợi thế lao động giá rẻ mất dần và các dòng vốn FDI liên tục dịch chuyển, Việt Nam cần định hướng chiến lược vĩ mô ra sao để nâng cao chất lượng nhân lực và giúp doanh nghiệp phát triển bền vững?

Trả lời câu hỏi của Luật sư Phan Huy Đức, GS. Hoàng Văn Cường cho rằng Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng dựa trên nhân công giá rẻ khi tự động hóa và công nghệ đang phát triển mạnh.

Luật sư Phan Huy Đức.

Luật sư Phan Huy Đức.

Theo GS. Hoàng Văn Cường, nếu không thay đổi mô hình tăng trưởng, Việt Nam có nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, khi năng suất không được cải thiện. Ông cho rằng mối quan hệ giữa chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển của doanh nghiệp nội địa đang đặt ra bài toán “con gà - quả trứng”: nhân lực có trình độ nhưng thiếu môi trường để phát huy, trong khi doanh nghiệp lại khó phát triển do chưa có nguồn nhân lực phù hợp. Thực tế, nhiều người được đào tạo bài bản nhưng đang làm những công việc chưa tương xứng với trình độ là một minh chứng.

Theo ông, vấn đề lớn hiện nay không hẳn nằm ở tố chất người lao động mà ở sự thiếu liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu của doanh nghiệp. Vì vậy, Nhà nước cần xây dựng chiến lược công nghệ ở tầm quốc gia, xác định rõ những ngành, lĩnh vực mũi nhọn cần ưu tiên làm chủ, từ đó xác định nhu cầu và quy mô đào tạo nhân lực.

Trên nền tảng đó, cần hình thành hệ sinh thái liên kết “3 nhà” gồm nhà nước - nhà trường, viện nghiên cứu - doanh nghiệp, đưa đào tạo gắn với nhu cầu thực tế và tăng vai trò của doanh nghiệp trong phát triển nhân lực. Theo GS. Cường, sự đồng hành về thể chế của Nhà nước cùng với sự chủ động của doanh nghiệp, viện trường sẽ giúp Việt Nam nâng cao chất lượng nhân lực, làm chủ công nghệ và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Trả lời câu hỏi về con đường khởi nghiệp xuất khẩu dành cho những người trẻ không có nhà xưởng, không có nguồn vốn lớn và hạn chế về tiếng Anh, ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, chia sẻ mô hình thương mại dựa trên ba tiêu chí “không xưởng – không vốn – không tiếng Anh”.

Ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO.

Ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO.

Theo ông Việt, rào cản về ngôn ngữ hiện nay có thể được thu hẹp đáng kể nhờ các công cụ công nghệ như Google Dịch, ChatGPT và phần mềm dịch thuật. Người bán có thể sử dụng các công cụ này để giao tiếp trực tiếp với khách hàng quốc tế, phản hồi nhanh và phù hợp với ngôn ngữ của đối tác. Đây có thể trở thành lợi thế giúp những doanh nghiệp thương mại nhỏ rút ngắn khoảng cách với đối thủ nước ngoài.

Về vốn, ông Việt cho rằng doanh nghiệp thương mại có thể tận dụng chính dòng tiền từ đơn hàng. Với các đơn hàng vừa và nhỏ, doanh nghiệp có thể đàm phán để khách hàng đặt cọc khoảng 30-40% theo phương thức T/T, qua đó có nguồn tiền thu mua hàng hóa trong nước mà không phải bỏ nhiều vốn tự có. Doanh nghiệp cũng có thể linh hoạt trong đàm phán, hỗ trợ một phần chi phí để khách hàng sang Việt Nam kiểm tra hàng hóa, qua đó thúc đẩy thanh toán và giảm áp lực dòng tiền.

Đáng chú ý, theo ông Việt, không có nhà xưởng cũng có thể trở thành lợi thế đối với doanh nghiệp thương mại, bởi mô hình này cho phép doanh nghiệp linh hoạt tìm kiếm nhà cung cấp phù hợp với từng đơn hàng, thay vì chỉ bán những sản phẩm mình đang có. “Bán cái khách hàng cần chứ không phải bán cái mình có” là cách tiếp cận mà ông cho rằng doanh nghiệp thương mại cần hướng tới.

Bên cạnh đó, các thương hiệu lớn thường đặc biệt quan tâm đến chất lượng và khả năng kiểm soát rủi ro. Vì vậy, doanh nghiệp thương mại không nhất thiết phải cạnh tranh bằng giá thấp mà có thể tạo lợi thế thông qua năng lực kiểm hàng, kiểm soát chất lượng và bảo đảm sản phẩm trước khi giao cho đối tác.

Theo ông Việt, với mô hình này, người trẻ không nhất thiết phải bắt đầu bằng nhà xưởng hay nguồn vốn lớn. Quan trọng hơn là khả năng tìm kiếm thị trường, kết nối nguồn hàng, tổ chức đơn hàng và xây dựng niềm tin với khách hàng quốc tế, từ đó từng bước tham gia sâu hơn vào hoạt động xuất khẩu.

Đang tiếp tục cập nhật!

Nhóm PV
Bạn đang đọc bài viết Diễn đàn về chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu tại chuyên mục Tài chính của Tạp chí Tài chính doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác:

email: [email protected], hotline: 086 508 6899

Tin liên quan

Việt Nam hoàn tất hồ sơ trình Diễn đàn Toàn cầu nhằm nâng hạng tuân thủ thuế
Cục Thuế cho biết, Việt Nam đã chính thức hoàn thành việc nộp Hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu tới Ban Thư ký Diễn đàn Toàn cầu để phục vụ quá trình đánh giá, nâng hạng tuân thủ của Việt Nam trong kỳ đánh giá tới với mục đích đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các vùng tài phán không hợp tác về thuế của Liên minh châu Âu.