Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính cho khu vực kinh tế tư nhân

28/05/2026, 14:20
chia sẻ bài viết

TCDN - Sau một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, môi trường kinh doanh đã có những cải thiện đáng kể, thể hiện qua sự gia tăng mạnh mẽ của số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Tóm tắt

Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp khoảng 50–55% GDP, tạo ra trên 84% việc làm và chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Sau một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, môi trường kinh doanh đã có những cải thiện đáng kể, thể hiện qua sự gia tăng mạnh mẽ của số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn vẫn là một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình mở rộng đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân. Trên cơ sở phân tích thực trạng huy động vốn và phát triển doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính đa tầng, khơi thông các nguồn lực xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn tới.

Từ khóa: kinh tế tư nhân, tiếp cận vốn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nghị quyết 68-NQ/TW, tăng trưởng kinh tế.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam. Việc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển khi khẳng định vai trò trung tâm của khu vực kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển đất nước. Theo đó, hàng loạt chính sách về tín dụng, đất đai, cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đã được triển khai nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Tuy nhiên, mặc dù số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh, khả năng tiếp cận nguồn vốn vẫn là rào cản lớn đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Đây không chỉ là vấn đề của riêng doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn là thách thức đối với mục tiêu huy động hiệu quả nguồn lực xã hội phục vụ tăng trưởng kinh tế. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính cho khu vực kinh tế tư nhân có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

2. Thực trạng phát triển khu vực kinh tế tư nhân và tiếp cận nguồn lực tài chính

2.1. Kinh tế tư nhân tiếp tục mở rộng quy mô và gia tăng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế

Sau khi Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành và triển khai, khu vực kinh tế tư nhân đã ghi nhận những chuyển biến tích cực cả về quy mô doanh nghiệp lẫn khả năng huy động nguồn lực xã hội. Điều này cho thấy niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với môi trường đầu tư kinh doanh đang từng bước được cải thiện, đồng thời khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của khu vực tư nhân trong nền kinh tế quốc dân.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), năm 2025 cả nước có 195.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và 102.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập thị trường lên 297.400 doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm trước. Cùng với sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024. Những con số này phản ánh xu hướng mở rộng đầu tư và kỳ vọng tích cực của khu vực kinh tế tư nhân đối với triển vọng phát triển kinh tế trong giai đoạn mới.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong những tháng đầu năm 2026. Chỉ tính riêng bốn tháng đầu năm, cả nước có 77,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký gần 785,4 nghìn tỷ đồng; đồng thời có 41,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Như vậy, tổng số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt hơn 119,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô vốn đăng ký bình quân đạt khoảng 10,1 tỷ đồng/doanh nghiệp, cho thấy mức độ sẵn sàng đầu tư của khu vực tư nhân đang được cải thiện đáng kể.

Không chỉ gia tăng về số lượng doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân còn ngày càng khẳng định vai trò là nguồn lực quan trọng đối với đầu tư phát triển. Năm 2025, trong tổng số 564 công trình, dự án trọng điểm quốc gia được khởi công và khánh thành, nguồn vốn từ khu vực tư nhân đạt khoảng 3,84 triệu tỷ đồng, chiếm 74,6% tổng vốn đầu tư. Tỷ trọng này cho thấy khu vực tư nhân không chỉ là lực lượng tạo việc làm và đóng góp cho tăng trưởng GDP mà còn đang trở thành chủ thể quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội cho phát triển kết cấu hạ tầng và các ngành kinh tế trọng điểm.

2.2. Điểm nghẽn về tiếp cận vốn và quy mô doanh nghiệp

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực về số lượng doanh nghiệp và quy mô đầu tư, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng. Một trong những hạn chế lớn nhất hiện nay là cơ cấu doanh nghiệp còn mất cân đối khi phần lớn vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô vốn, năng lực tài chính và khả năng tích lũy còn hạn chế.

Hiện nay, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp này chưa tích lũy đủ nguồn lực để mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ hoặc tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tế cho thấy, mặc dù số lượng doanh nghiệp thành lập mới liên tục tăng nhưng số lượng doanh nghiệp quy mô lớn có khả năng dẫn dắt thị trường và cạnh tranh quốc tế vẫn còn khá khiêm tốn.

Khó khăn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay là khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Dù đóng góp hơn một nửa GDP của cả nước, dư nợ tín dụng dành cho nhóm doanh nghiệp này chỉ chiếm chưa đến 20% tổng dư nợ toàn hệ thống ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc nhiều doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, năng lực quản trị tài chính còn hạn chế và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn minh bạch thông tin theo yêu cầu của các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, cơ cấu cung ứng vốn của nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại. Tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP dự kiến đạt khoảng 146% vào năm 2025, thuộc nhóm cao nhất khu vực châu Á. Trong khi đó, nguồn vốn huy động thông qua thị trường cổ phiếu và trái phiếu mới chỉ chiếm khoảng 15–20% tổng nguồn cung vốn cho nền kinh tế. Điều này cho thấy sự mất cân đối trong cấu trúc thị trường tài chính, khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ đầu tư phát triển.

2.3. Thị trường vốn chưa thực sự trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả cho khu vực kinh tế tư nhân

Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng đang chịu áp lực lớn về quy mô và giới hạn tăng trưởng, thị trường vốn được kỳ vọng sẽ trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thị trường vốn Việt Nam vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò này.

Mặc dù quy mô thị trường chứng khoán đã có bước phát triển đáng kể, với giá trị vốn hóa tương đương khoảng 78% GDP, nhưng mức độ tham gia của doanh nghiệp còn khá hạn chế. Hiện nay, số lượng doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch chỉ khoảng 1.600 doanh nghiệp, tương đương chưa đến 1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước. Điều này cho thấy phần lớn doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn chưa coi thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn hiệu quả.

Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, những biến động trong giai đoạn 2022–2023 đã làm suy giảm đáng kể niềm tin của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, thị trường còn đối mặt với nhiều hạn chế như thiếu các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp, số lượng quỹ đầu tư trái phiếu còn ít và thủ tục phát hành tương đối phức tạp. Những yếu tố này khiến thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa thể trở thành nguồn cung vốn trung và dài hạn ổn định cho khu vực tư nhân.

Nhìn tổng thể, vấn đề của hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay không phải là thiếu các kênh dẫn vốn mà là các kênh này chưa vận hành như một hệ sinh thái liên thông và bổ trợ lẫn nhau. Sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng trong khi thị trường vốn phát triển chưa tương xứng đã làm hạn chế khả năng huy động và phân bổ nguồn lực tài chính cho khu vực kinh tế tư nhân. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều doanh nghiệp vẫn lựa chọn chiến lược phòng thủ thay vì mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

3. Thách thức đối với phát triển kinh tế tư nhân

Kết quả nghiên cứu cho thấy những khó khăn của khu vực kinh tế tư nhân không chỉ xuất phát từ vấn đề thiếu vốn mà còn liên quan đến chất lượng thể chế và môi trường đầu tư kinh doanh.

Thứ nhất, hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng và tài chính còn tồn tại tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ, làm gia tăng chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ hai, doanh nghiệp vẫn mang tâm lý thận trọng trước những biến động của thị trường trong nước và quốc tế. Điều này thể hiện qua số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường còn ở mức cao, với gần 230 nghìn doanh nghiệp trong năm 2025 và gần 109 nghìn doanh nghiệp trong bốn tháng đầu năm 2026.

Thứ ba, phần lớn doanh nghiệp tư nhân chưa đủ nguồn lực để thực hiện chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG – những yêu cầu ngày càng quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

4. Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính cho khu vực kinh tế tư nhân

4.1. Hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào quy mô thị trường vốn mà còn chịu tác động mạnh từ chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh. Một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định và dễ dự đoán sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch, giảm rủi ro đầu tư và nâng cao niềm tin của doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, đấu thầu và tài chính theo hướng đồng bộ, nhất quán và giảm thiểu sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật. Đặc biệt, cần hoàn thiện các quy định về quyền tài sản, quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực thi hợp đồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sử dụng tài sản hợp pháp làm cơ sở tiếp cận tín dụng.

Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Việc mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thực hiện cơ chế một cửa liên thông và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, nguồn lực và tăng khả năng tiếp cận các cơ hội đầu tư mới. Đây cũng là tiền đề quan trọng để thu hút dòng vốn tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

4.2. Phát triển đồng bộ hệ thống tài chính đa tầng

Một trong những hạn chế lớn của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng. Trong khi nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp ngày càng lớn và mang tính dài hạn, nguồn vốn ngân hàng chủ yếu phù hợp với nhu cầu vốn ngắn và trung hạn. Điều này tạo ra sự mất cân đối trong cấu trúc cung ứng vốn của nền kinh tế.

Do đó, cần phát triển hệ thống tài chính đa tầng theo hướng cân bằng giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Trước hết, cần tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường chứng khoán, khuyến khích nhiều doanh nghiệp tư nhân niêm yết thông qua việc đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí phát hành và tăng cường tính minh bạch của thị trường. Việc tham gia thị trường chứng khoán không chỉ giúp doanh nghiệp huy động vốn dài hạn mà còn nâng cao năng lực quản trị và uy tín thương hiệu.

Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cần hoàn thiện khung pháp lý theo hướng vừa tăng cường giám sát rủi ro vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu minh bạch và hiệu quả. Đồng thời, cần thúc đẩy sự phát triển của các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư tư nhân, quỹ hưu trí và các tổ chức đầu tư dài hạn nhằm tạo thêm nguồn vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và các dự án có tiềm năng tăng trưởng cao.

Việc hình thành một hệ sinh thái tài chính liên thông giữa ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các quỹ đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn phù hợp với từng giai đoạn phát triển, từ khởi nghiệp, tăng trưởng đến mở rộng quy mô và hội nhập quốc tế.

4.3. Mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động nhưng lại là nhóm gặp nhiều khó khăn nhất trong tiếp cận nguồn vốn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ quy mô nhỏ, thiếu tài sản bảo đảm, hệ thống kế toán chưa minh bạch và năng lực quản trị tài chính còn hạn chế.

Để khắc phục tình trạng này, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương. Các quỹ này cần chuyển từ vai trò hỗ trợ hành chính sang cơ chế hoạt động theo nguyên tắc thị trường, tập trung bảo lãnh cho các dự án khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp.

Bên cạnh đó, cần thúc đẩy các mô hình cho vay mới dựa trên dòng tiền, dữ liệu giao dịch điện tử, lịch sử thanh toán thuế và tài sản trí tuệ thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản bảo đảm truyền thống. Đây là xu hướng đang được nhiều quốc gia áp dụng nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Một giải pháp quan trọng khác là nâng cao năng lực quản trị tài chính của doanh nghiệp thông qua các chương trình đào tạo, tư vấn và hỗ trợ chuẩn hóa hệ thống kế toán, báo cáo tài chính. Khi doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch và khả năng quản trị, chi phí vốn sẽ giảm xuống và khả năng tiếp cận các nguồn tài chính chính thức sẽ được cải thiện đáng kể.

4.4. Thúc đẩy huy động vốn quốc tế và phát triển tài chính xanh

Trong bối cảnh nguồn lực trong nước còn hạn chế, việc khai thác các dòng vốn quốc tế là yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, xu hướng phát triển bền vững đang tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận các nguồn vốn xanh với chi phí thấp hơn so với các nguồn vốn truyền thống.

Theo đó, cần xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững và tham gia các chương trình tín dụng xanh. Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua việc ban hành tiêu chuẩn phân loại dự án xanh, hỗ trợ chi phí đánh giá, chứng nhận và công bố thông tin ESG.

Đồng thời, cần tăng cường thu hút các nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khí hậu toàn cầu và các nhà đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng tái tạo, công nghệ cao và chuyển đổi số. Việc áp dụng các cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và khu vực tư nhân trong các dự án PPP sẽ góp phần nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, từ đó thu hút thêm các dòng vốn dài hạn phục vụ phát triển kinh tế.

4.5. Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh

Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp ngày nay không chỉ phụ thuộc vào tài sản và quy mô hoạt động mà còn chịu tác động bởi mức độ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tuân thủ các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Trên thực tế, nhiều tổ chức tài chính và quỹ đầu tư quốc tế đang ưu tiên cấp vốn cho các doanh nghiệp có chiến lược ESG rõ ràng và áp dụng công nghệ hiện đại trong quản trị.

Do đó, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ số, tự động hóa sản xuất, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các giải pháp tiết kiệm năng lượng. Các hình thức hỗ trợ có thể bao gồm ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất, tín dụng ưu đãi hoặc đồng tài trợ cho các dự án đổi mới công nghệ.

Song song với đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn ESG, xây dựng hệ thống báo cáo phát triển bền vững và nâng cao năng lực quản trị môi trường – xã hội – quản trị doanh nghiệp. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh mà còn mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn quốc tế, đặc biệt là các quỹ đầu tư xanh và các định chế tài chính phát triển.

5. Kết luận

Sau một năm thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, khu vực kinh tế tư nhân đã có những chuyển biến tích cực về quy mô doanh nghiệp và huy động nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn trung và dài hạn vẫn là rào cản lớn đối với quá trình phát triển của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, việc xây dựng một hệ sinh thái tài chính đa tầng, minh bạch và hiệu quả là điều kiện tiên quyết để khơi thông dòng vốn cho khu vực kinh tế tư nhân. Khi các nguồn lực tài chính được phân bổ hiệu quả vào sản xuất, đổi mới sáng tạo và phát triển hạ tầng, khu vực kinh tế tư nhân sẽ thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:

Tổng cục Thống kê. (2024). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2024. https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2024/10/Sach-trang-doanh-nghiep-Viet-Nam-2024.pdf

Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). (2023–2024). Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam.

Tạp chí Quản lý Nhà nước. (2025). Giải pháp phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/12/giai-phap-phat-trien-manh-me-kinh-te-tu-nhan-o-viet-nam/

Tạp chí Chính trị và Phát triển. (2025). Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh mới. https://chinhtrivaphattrien.vn/thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-trong-boi-canh-moi-a9596.html

Nguyễn Quang Anh, TS. Hà Thị Thu Phương

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Bạn đang đọc bài viết Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính cho khu vực kinh tế tư nhân tại chuyên mục Bài báo khoa học của Tạp chí Tài chính doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác:

email: [email protected], hotline: 086 508 6899