Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam
TCDN - Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực về quy mô, trình độ, những hạn chế về thể lực, trình độ kỹ thuật, khả năng thích ứng, tác phong công nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ.
Tóm tắt:
Nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong thời đại 4.0. Mặc dù Việt Nam có lợi thế về quy mô dân số và lực lượng lao động dồi dào, nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển khoa học công nghệ. Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay về quy mô, trình độ, những hạn chế về thể lực, trình độ kỹ thuật, khả năng thích ứng, tác phong công nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ trong thời gian tới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước.
1. Cơ sở lý luận
Theo Liên Hợp quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt:
· Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ;
· Về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
* Vai trò của nguồn lực khoa học, công nghệ
- Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ là nhân tổ quyết định làm tăng trưởng kinh tế
- Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ giữ vai trò quyết định để chuyển đổi số, kinh tế số thành công trong bối cảnh hiện nay.
- Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ giúp nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến
2. Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam
2.1. Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực

Trong những năm gần đây, quy mô nguồn nhân lực Việt Nam có xu hướng gia tăng cùng với sự tăng lên của dân số. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến hết năm 2024, dân số cả nước ước đạt khoảng 101,11 triệu người, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt khoảng 53,0 triệu người, chiếm hơn một nửa tổng dân số cả nước.
Bảng số liệu cho thấy, trong giai đoạn 2020–2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên nhìn chung có xu hướng tăng, tuy nhiên có sự sụt giảm rõ rệt vào năm 2021 do tác động nghiêm trọng của đại dịch COVID-19. Cụ thể, lực lượng lao động giảm từ 53,4 triệu người năm 2020 xuống còn 50,5 triệu người năm 2021. Từ năm 2022 trở đi, cùng với quá trình phục hồi kinh tế – xã hội, lực lượng lao động dần được khôi phục và tăng trở lại, đạt 53,0 triệu người vào năm 2024.

Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp chung trong giai đoạn 2020–2024 có xu hướng giảm nhẹ, từ mức 2,26% năm 2020 xuống còn 2,22% năm 2024, phản ánh sự cải thiện nhất định của thị trường lao động trong điều kiện nền kinh tế từng bước phục hồi và ổn định sau đại dịch.
Theo số liệu cập nhật, trong 9 tháng đầu năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đạt khoảng 53,1 triệu người, tăng 556,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy quy mô nguồn nhân lực tiếp tục được duy trì ổn định, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới.
2.2. Trình độ nguồn nhân lực

Xét về trình độ nguồn nhân lực, số liệu thống kê cho thấy chất lượng lao động Việt Nam đã có những cải thiện nhất định trong giai đoạn 2020–2024, song vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế hiện đại và chuyển đổi số.
Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề có xu hướng tăng đều qua các năm, từ 24,1% năm 2020 lên 28,6% năm 2024. Tuy nhiên, mức tăng này còn chậm và tỷ lệ lao động qua đào tạo vẫn ở mức thấp so với yêu cầu nâng cao năng suất lao động và phát triển khoa học – công nghệ. Tương tự, tỷ lệ lao động có trình độ đại học tăng từ 10,6% năm 2020 lên 12,0% năm 2024, phản ánh sự cải thiện nhưng chưa thực sự rõ nét trong cơ cấu lao động trình độ cao.
Đáng chú ý, tỷ lệ lao động có trình độ sau đại học chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng lực lượng lao động, chỉ tăng từ 1,1% năm 2020 lên 1,4% năm 2024. Điều này cho thấy nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực phục vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, vẫn còn thiếu hụt.
Theo Tổng cục Thống kê, tính đến quý III năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 29,5%, tăng khoảng 1% với cùng kỳ năm trước; tính chung 9 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ này đạt 29,1%. Mặc dù cho thấy xu hướng cải thiện tích cực, song nhìn chung, tỷ lệ lao động qua đào tạo của Việt Nam vẫn còn thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế tri thức, kinh tế số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay.
2.3. Những mặt hạn chế của nguồn nhân lực
Ngày 22/12/2024 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó đề cập biện pháp quan trọng để thực hiện là trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài để đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ. Tuy nhiên thực trạng về nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay còn hạn chế về nhiều mặt:
- Một là, thể lực và sức khỏe của nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện đại và chuyển đổi số.
Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế hiện đại và chuyển đổi số, yêu cầu đối với người lao động không chỉ bao gồm trình độ chuyên môn mà còn đòi hỏi sức khỏe thể chất và tâm lý đáp ứng cường độ lao động cao, môi trường làm việc áp lực và sự thay đổi nhanh của công nghệ. Những yêu cầu này đã được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 52-NQ/TW về chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó coi con người là trung tâm của quá trình chuyển đổi số và phát triển khoa học – công nghệ.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của hệ thống an sinh xã hội và công tác chăm sóc sức khỏe, thể lực và tầm vóc của người dân Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể. Theo Tổng cục Thống kê, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng từ 73,7 tuổi năm 2020 lên khoảng 74,7 tuổi năm 2024. Tuy nhiên, xét trên góc độ yêu cầu của thị trường lao động hiện đại, các chỉ số về sức bền lao động, thể lực và đặc biệt là sức khỏe tâm thần của người lao động vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và khả năng thích ứng với môi trường làm việc số hóa.
- Hai là, trình độ kỹ thuật và chất lượng đào tạo của lực lượng lao động còn thấp.
Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn của lực lượng lao động Việt Nam hiện nay chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ chất lượng nguồn nhân lực là một trong những “điểm nghẽn” lớn của quá trình phát triển.
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, giai đoạn 2020–2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề, lao động có trình độ đại học và sau đại học có xu hướng tăng, song vẫn còn ở mức thấp so với yêu cầu của thị trường lao động và so với nhiều quốc gia trong khu vực. Đáng chú ý, tính đến quý III năm 2025, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới chỉ đạt khoảng 29,5%.
Bên cạnh đó, trình độ tin học và ngoại ngữ của một bộ phận lớn người lao động còn hạn chế, trở thành rào cản lớn đối với việc tiếp cận công nghệ mới và tham gia thị trường lao động khu vực và thế giới.
- Ba là, khả năng thích ứng của người lao động trước sự thay đổi nhanh của khoa học và công nghệ còn hạn chế.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật, công nghệ và kinh tế số đang làm thay đổi sâu sắc cơ cấu việc làm, trong đó nhiều công việc truyền thống có xu hướng bị thay thế bởi tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số. Nghị quyết số 52-NQ/TW đã nhấn mạnh nguy cơ tụt hậu và thất nghiệp cơ cấu nếu nguồn nhân lực không kịp thời thích ứng với những thay đổi này.
Tuy nhiên, trên thực tế, đa số người lao động Việt Nam còn chậm thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học – công nghệ. Theo các báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, một bộ phận lớn lao động, đặc biệt là lao động giản đơn và lao động lớn tuổi, còn thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để chuyển đổi sang các công việc mới trong nền kinh tế số.
Điều này khiến người lao động đối mặt với nguy cơ mất việc làm hoặc giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động, đồng thời đặt ra thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao năng suất lao động quốc gia.
- Bốn là, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác và đổi mới sáng tạo của một bộ phận lao động còn nhiều bất cập.
Bên cạnh những phẩm chất truyền thống quý báu như cần cù, thông minh và tinh thần trách nhiệm, một bộ phận người lao động Việt Nam vẫn còn hạn chế về tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và ý thức tổ chức. Hạn chế này đã được chỉ ra trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước, coi đây là rào cản đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thói quen làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiếu tính hệ thống, ngại thay đổi và chưa mạnh dạn đổi mới đã tạo nên tâm lý trì trệ, làm giảm khả năng tiếp thu tri thức khoa học và ứng dụng công nghệ mới. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực đổi mới sáng tạo, hiệu quả làm việc nhóm và năng suất lao động trong môi trường sản xuất, kinh doanh hiện đại.
3. Đề xuất một số giải pháp
Dựa trên số liệu thống kê về quy mô, trình độ nguồn nhân lực và những phân tích về những hạn chế của nguồn nhân lực, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu của phát triển khoa học – công nghệ:
Giải pháp 1. Nâng cao thể lực, sức khỏe thể chất và tinh thần của nguồn nhân lực
Thể lực và sức khỏe là nền tảng quan trọng bảo đảm năng suất, hiệu quả lao động trong nền kinh tế hiện đại và kinh tế số. Mặc dù tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng từ 73,7 tuổi năm 2020 lên khoảng 74,7 tuổi năm 2024, song chiều cao, sức bền và sức khỏe tâm lý của lực lượng lao động vẫn còn hạn chế so với nhiều quốc gia trong khu vực.
Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội, đặc biệt đối với lao động khu vực phi chính thức và lao động trong nền kinh tế nền tảng. Theo Tổng cục Thống kê, đến năm 2024 vẫn còn một bộ phận đáng kể lao động chưa tham gia đầy đủ các loại hình bảo hiểm, làm gia tăng rủi ro về sức khỏe và thu nhập khi gặp biến cố.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu và sức khỏe tâm thần, nhất là trong bối cảnh áp lực công việc, cường độ lao động cao và nguy cơ “stress công nghệ” ngày càng gia tăng. Đồng thời, gắn phát triển nguồn nhân lực với cải thiện thể lực học đường, dinh dưỡng và tầm vóc cho thế hệ trẻ – lực lượng lao động tương lai của đất nước. Đối với doanh nghiệp, cần khuyến khích xây dựng môi trường làm việc an toàn, thân thiện, ứng dụng công nghệ trong quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng đời sống tinh thần cho người lao động.
Giải pháp 2. Nâng cao trình độ, kỹ năng và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực công nghệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức. Tuy nhiên, theo số liệu của Tổng Cục thống kê, tính đến quý III năm 2025, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ ở Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 29,5%, thấp hơn nhiều so với yêu cầu phát triển và so với các nước công nghiệp mới trong khu vực.
Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu của thị trường lao động, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII nhấn mạnh: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới” [2].
Ngoài ra, việc nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học cần được coi là nhiệm vụ trọng tâm, bởi đây là rào cản lớn đối với khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của nguồn nhân lực Việt Nam. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo – doanh nghiệp – viện nghiên cứu nhằm bảo đảm nội dung đào tạo sát với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
Giải pháp 3. Nâng cao khả năng thích ứng của người lao động trước sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ và kinh tế số đang làm thay đổi sâu sắc cơ cấu việc làm, vừa tạo ra nhiều cơ hội mới, vừa đặt ra thách thức lớn đối với người lao động. Do đó, cần nâng cao nhận thức của người lao động về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó hình thành tư duy chủ động học tập, thích nghi và đổi mới.
Nhà nước cần xây dựng và triển khai các chương trình hỗ trợ chuyển đổi nghề, đào tạo lại cho những nhóm lao động dễ bị tổn thương trước quá trình tự động hóa, nhất là lao động giản đơn, lao động trong các ngành sử dụng nhiều lao động truyền thống. Đồng thời, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, khuyến khích người lao động tham gia vào các lĩnh vực công nghệ mới, kinh tế số và kinh tế xanh.
Hơn nữa, cần nâng cao hiệu quả công tác dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành, lĩnh vực và trình độ, giúp người lao động và cơ sở đào tạo có cơ sở điều chỉnh kế hoạch học tập, đào tạo phù hợp với xu hướng phát triển khoa học – công nghệ.
Giải pháp 4. Hoàn thiện tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác và đổi mới sáng tạo của người lao động
Bên cạnh những phẩm chất truyền thống như cần cù, sáng tạo, người lao động Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế về tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động và tinh thần làm việc nhóm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp thu tri thức khoa học và ứng dụng công nghệ mới.
Do đó, cần đẩy mạnh giáo dục tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, ý thức trách nhiệm và tinh thần hợp tác ngay từ trong nhà trường, cơ sở đào tạo nghề và trong quá trình lao động sản xuất. Doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa làm việc hiện đại, đề cao hiệu quả, kỷ cương, khuyến khích sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, hoàn thiện cơ chế đãi ngộ, tôn vinh và sử dụng nhân tài, tạo động lực để người lao động phát huy tối đa năng lực trí tuệ, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Giải pháp 5. Hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực gắn với khoa học và công nghệ
Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 31/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện pháp luật và ban hành khung chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực: lãnh đạo, quản lý, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, nghệ thuật, khoa học và xã hội; thể dục, thể thao; quân sự, quốc phòng và an ninh quốc gia, thông tin và truyền thông… Đây là cơ sở chính trị, pháp lý để chúng ta đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài trong khu vực công ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, để công tác này thật sự có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật và có những cơ chế, chính sách phù hợp trong bối cảnh hiện nay nhằm đảm bảo việc phân bổ và sử dụng nhân tài hợp lý, phù hợp với tính chất công việc và khả năng của nguồn nhân lực.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Tài liệu tham khảo
[1]. PGS.TS. Trần Kim Dung (2009), “Quản trị nguồn nhân lực” Nxb Thống kê.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.327.
[3]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hà Nội.
[4]. Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý IV và năm 2020. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2020/
[5]. Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý IV năm 2021 và chỉ số phát triển con người Việt Nam 2016-2020. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iv-nam-2021-va-chi-so-phat-trien-con-nguoi-viet-nam-2016-2020/
[6]. Thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm Quý IV và năm 2022. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2023/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2022/
ThS. Nguyễn Thị Thúy Duyên
Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu
Tạp chí in số tháng 5/2026
email: [email protected], hotline: 086 508 6899
Tag:












