Nâng cao hiệu quả tham gia phát triển KT - XH gắn với củng cố quốc phòng của Quân đội nhân dân Việt Nam
TCDN - Trong bối cảnh mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) gắn với củng cố quốc phòng là nhiệm vụ chiến lược, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

TÓM TẮT:
Trong bối cảnh mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) gắn với củng cố quốc phòng là nhiệm vụ chiến lược, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Do đó, việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, chính quyền địa phương và nhân dân trong phát huy vai trò của Quân đội tại khu vực này có ý nghĩa to lớn. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, phát huy tốt hơn vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia phát triển KT-XH gắn với củng cố quốc phòng ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung trong thời kỳ mới.
1. Đặt vấn đề
Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) không chỉ là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc mà còn là lực lượng xung kích, tiên phong trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), xóa đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai và xây dựng cơ sở chính trị ở các địa bàn chiến lược. Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là “phên dậu” phía Đông của Tổ quốc, vừa là địa bàn kinh tế - quốc phòng trọng yếu, nơi giao thoa giữa Bắc - Nam, Đông - Tây, có đường biên giới trên bộ và trên biển dài, nhiều cảng biển, đảo và khu kinh tế trọng điểm.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động khó lường về an ninh khu vực, yêu cầu đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng cao; quán triệt quan điểm: “Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quốc phòng, an ninh và các lực lượng vũ trang”, đây là quan điểm nhất quán xuyên suốt ngày càng được bổ sung phát triển. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm các chủ thể để phát huy hơn nữa vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong phát triển KT-XH gắn với củng cố quốc phòng ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung trong thời kỳ mới là vấn đề cấp thiết, mang tính chiến lược lâu dài.
2. Thực trạng nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể
2.1. Kết quả đạt được
Những năm qua, các cấp, các ngành, nhất là các địa phương trong vùng đã nhận thức ngày càng rõ hơn về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của vùng; sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị được huy động; nhiều điểm nghẽn đối với phát triển được khơi thông, tiềm năng, lợi thế của vùng và từng địa phương trong vùng từng bước được phát huy; đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Cụ thể: “Kinh tế tăng trưởng bình quân 7,3%/năm giai đoạn 2005 - 2020, cao hơn mức trung bình cả nước. Quy mô kinh tế của vùng năm 2020 (theo giá hiện hành) tăng gấp 9,1 lần so với năm 2004, chiếm 14,5% GDP cả nước; GRDP bình quân đầu người đạt mức 56,9 triệu đồng/người/năm… Trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; quốc phòng, an ninh được giữ vững, nhất là an ninh chính trị, an ninh biên giới, bảo vệ vững chắc vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”.
Trong những năm gần đây, nhận thức của cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị và nhân dân vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung về vai trò của quân đội tham gia phát triển KT-XH gắn với QPAN đã được nâng lên rõ rệt.
Kết quả khảo sát của Viện Chiến lược Quốc phòng (2023) cho thấy: 85% cán bộ cấp tỉnh và huyện trong khu vực đánh giá “rất cần thiết” phải lồng ghép yếu tố quốc phòng trong quy hoạch phát triển KT-XH địa phương. Nhiều địa phương đã chủ động lồng ghép nhiệm vụ quốc phòng vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế: như Thừa Thiên Huế xây dựng “Khu kinh tế - quốc phòng A Lưới”; Quảng Nam phát triển “Cụm công nghiệp - quốc phòng Chu Lai”; Bình Định hình thành “Khu kinh tế Nhơn Hội gắn phòng thủ ven biển”. Đặc biệt, công tác giáo dục quốc phòng và an ninh được chú trọng, trong 5 năm (2019-2024), toàn vùng đã tổ chức hơn 2.300 lớp bồi dưỡng kiến thức QPAN cho trên 180.000 cán bộ, đảng viên. Hoạt động tuyên truyền về biển, đảo, chủ quyền quốc gia được các đơn vị hải quân, bộ đội biên phòng phối hợp địa phương thực hiện thường xuyên, góp phần nâng cao ý thức quốc gia - dân tộc trong nhân dân. Vừa qua (tháng 11-12/2025) các đoàn kinh tế quốc phòng, cùng với Quân đội và các lực lượng khác đã tích cực tham gia cứu trợ và khắc phục bão lụt ở miền Trung bằng cách huy động quân lực, vận chuyển nhu yếu phẩm, lương thực, thuốc men; hỗ trợ xây dựng lại nhà cửa, dọn dẹp môi trường; và phối hợp với địa phương triển khai cứu trợ khẩn cấp, đảm bảo lương thực, thực phẩm, nước sạch cho người dân, thể hiện tinh thần "lá lành đùm lá rách" và trách nhiệm của quân đội, doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức xã hội, với nhiều chuyến bay, đoàn công tác mang hàng cứu trợ trị giá hàng trăm tỷ đồng đến các tỉnh như Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng.
2.2. Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh kết quả tích cực, vẫn còn một số hạn chế như: nhận thức của một số cấp, ngành và địa phương về mối quan hệ giữa phát triển KT-XH với củng cố quốc phòng chưa đầy đủ; cơ chế phối hợp còn thiếu đồng bộ; công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể còn chưa sâu, dẫn đến hiệu quả phát huy vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong phát triển KT-XH gắn với quốc phòng, chưa tương xứng với tiềm năng, vị trí của vùng. Theo đánh giá của Nghị quyết số 26 chỉ ra: “Vẫn là vùng có chỉ số phát triển ở nhiều lĩnh vực thấp hơn mức trung bình cả nước. Tiềm năng, lợi thế của vùng, nhất là kinh tế biển chưa được khai thác hợp lý và phát huy hiệu quả. Quy mô kinh tế vùng còn nhỏ, GRDP bình quân đầu người thấp. Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự bền vững, chất lượng và năng lực cạnh tranh chưa cao. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa có đột phá…” . Từ đó rút ra những hạn chế chủ yếu đó là: (1) Một số cấp ủy, chính quyền địa phương nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của việc phát huy vai trò quân đội tham gia phát triển KT-XH; còn coi đây là nhiệm vụ riêng của ngành quốc phòng. (2) Sự phối hợp giữa các cơ quan quân sự và chính quyền trong quy hoạch, triển khai dự án đôi khi thiếu đồng bộ, dẫn đến chồng chéo, lãng phí nguồn lực. (3) Một số đoàn kinh tế - quốc phòng nguồn vốn hạn chế, cơ sở hạ tầng yếu, cán bộ kỹ thuật còn thiếu, nên hiệu quả chưa tương xứng. (4) Nhận thức, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ về vai trò “đội quân lao động sản xuất” còn hạn chế; công tác tuyên truyền, giáo dục trong nội bộ đôi khi hình thức.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên, xác định: (1) Công tác giáo dục chính trị tư tưởng và định hướng nhận thức ở một số đơn vị, địa phương chưa thường xuyên, thiếu chiều sâu; (2) Cơ chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành, địa phương chưa được thể chế hóa cụ thể; (3) Nguồn lực đầu tư cho các đoàn kinh tế - quốc phòng và chương trình gắn kết KT-XH với quốc phòng còn phân tán, dàn trải; (4) Một số cấp, ngành còn thiên về chỉ tiêu kinh tế, chưa chú trọng yếu tố quốc phòng trong phát triển vùng.
3. Giải pháp
Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tham tham gia phát triển KT-XH gắn với củng cố quốc phòng ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung thời kỳ mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số nhóm giải pháp sau:
Một là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Đây là giải pháp nền tảng quan trọng hàng đầu, mang định hướng tư tưởng và nhận thức; có nhận thức rõ vị trí, vai trò tầm quan trọng của phát triển KT-XH gắn với củng cố quốc phòng ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung sẽ có ý nghĩa quyết định đối với các giải pháp khác. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Trọng tâm là làm rõ vị trí, ý nghĩa chiến lược của việc kết hợp phát triển KT-XH với củng cố quốc phòng; nâng cao hiểu biết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt ở khu vực biên giới, hải đảo. Các hình thức tuyên truyền cần được đổi mới, gắn kết chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của các đơn vị quân đội và địa phương. Cần phát huy vai trò của hệ thống truyền thông quân đội, các báo, tạp chí quốc phòng, cổng thông tin điện tử của các quân khu, sư đoàn, để phổ biến các mô hình hiệu quả trong phát triển kinh tế kết hợp quốc phòng. Ngoài ra, nên đưa nội dung “Kết hợp phát triển kinh tế - quốc phòng” vào chương trình giáo dục QPAN cho học sinh, sinh viên, góp phần xây dựng nhận thức xã hội bền vững.
Hai là, Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về phát huy vai trò quân đội tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là giải pháp quan trọng mang tính thể chế, giữ vai trò khung pháp lý và bảo đảm tính bền vững để tháo gỡ những điểm ngẽn, vướng mắc thủ tục hành chính tại các địa phương. Nhà nước cần tiếp tục thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, nghị quyết của Đảng liên quan đến phát huy vai trò quân đội trong phát triển KT-XH gắn với QPAN. Cụ thể: tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW (2022) về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; trong đó xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các bộ, ngành và địa phương. Điều chỉnh quy hoạch phát triển KT-XH vùng bảo đảm kết hợp chặt chẽ với quy hoạch thế trận QPAN; lồng ghép mục tiêu “khu vực phòng thủ vững chắc” trong các chương trình, dự án trọng điểm. Có chính sách ưu đãi đầu tư, thu hút doanh nghiệp QPAN tham gia phát triển kinh tế địa phương, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp lưỡng dụng, hạ tầng ven biển, năng lượng tái tạo, và logistics quốc phòng.
Ba là, Nâng cao năng lực, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ và chính quyền địa phương.
Đây là giải pháp then chốt, trực tiếp quyết định hiệu quả thực thi đối với các lực tham gia, từ đó yêu cầu đối với quân đội: cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kinh tế - quốc phòng, trang bị kiến thức về quản lý nhà nước, phát triển bền vững và công nghiệp quốc phòng hiện đại. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nhận thức sâu sắc phương châm “Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, coi tham gia phát triển KT-XH là một phần trách nhiệm chính trị. Đối với chính quyền địa phương: cần phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chủ động phối hợp với các đơn vị quân đội trong công tác quy hoạch, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng, khu vực phòng thủ, quản lý đất quốc phòng, tạo điều kiện để quân đội tham gia các dự án phát triển nông thôn mới, ứng phó thiên tai, giảm nghèo bền vững. Cấp ủy, chính quyền địa phương nên đưa chỉ tiêu phối hợp quân - dân trong phát triển KT-XH gắn với quốc phòng vào nghị quyết hằng năm, xem đây là một tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị.
Bốn là, Đổi mới mô hình, phương thức hoạt động của các đoàn kinh tế - quốc phòng.
Đây là giải pháp trực tiếp về tổ chức thực tiễn, mang tính đột phá góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đoàn kinh tế - quốc phòng trong điều kiện mới, phù hợp với đặc thù địa hình, dân cư, kinh tế biển - đảo và khu vực ven biển miền Trung. Các đoàn kinh tế - quốc phòng cần tái cấu trúc mô hình hoạt động theo hướng đa ngành, lưỡng dụng và tự chủ tài chính cao hơn. Nên chuyển từ “làm kinh tế đơn lẻ” sang “phát triển vùng kinh tế - quốc phòng liên kết chuỗi giá trị”. Cần khuyến khích hình thành liên doanh, liên kết giữa đoàn kinh tế - quốc phòng với doanh nghiệp địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp trong phát triển hạ tầng, chuyển giao công nghệ sản xuất, hỗ trợ tiêu thụ nông sản, đào tạo nghề cho người dân vùng biên giới, hải đảo. Đồng thời, phải chú trọng ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, điều hành sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tiết kiệm ngân sách, bảo đảm tính bền vững cho mô hình kinh tế quốc phòng.
Năm là, Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tổng kết thực tiễn.
Đây là giải pháp nhằm bảo đảm các giải pháp được thực hiện đúng mục tiêu, đúng quy định, hiệu quả và minh bạch. Bộ Quốc phòng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các quân khu cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai các dự án kết hợp KT-XH với quốc phòng, bảo đảm đúng mục tiêu, tránh hình thức, lãng phí. Định kỳ tổ chức tổng kết, đánh giá, nhân rộng mô hình hiệu quả như mô hình “Cụm dân cư an toàn khu - phát triển kinh tế bền vững” của Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 (Quảng Trị), mô hình “Làng quốc phòng biên giới kết hợp nông nghiệp sinh thái” của Quân khu 5. Kết quả tổng kết thực tiễn cần được bổ sung vào chương trình đào tạo cán bộ quân đội, chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho lãnh đạo địa phương, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ hoạch định chính sách phát triển vùng trong giai đoạn tiếp theo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ Chính trị (2022), Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Bộ Quốc phòng (2024), Báo cáo tổng kết hoạt động các đoàn kinh tế - quốc phòng giai đoạn 2019 - 2024, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.48.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Dự thảo các Văn kiện trình đại hội XIV của Đảng, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, tr.119.
Ngô Minh Tuấn – Nguyễn Văn Minh
Trường Sĩ quan Chính trị
email: [email protected], hotline: 086 508 6899
Tag:








