Nghiên cứu tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực số của sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số
TCDN - Trước sự thay đổi trong cách tiếp cận thông tin và kiến tạo tri thức cá nhân, hệ thống giáo dục cần đổi mới các phương thức nhằm hỗ trợ người học thích ứng hiệu quả với môi trường học tập và làm việc hiện đại.
Tóm tắt:
Trong bối cảnh xã hội số phát triển mạnh mẽ, năng lực kỹ thuật số ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với hoạt động cá nhân và nghề nghiệp, đặc biệt đối với sinh viên đại học. Trước sự thay đổi trong cách tiếp cận thông tin và kiến tạo tri thức cá nhân, hệ thống giáo dục cần đổi mới các phương thức nhằm hỗ trợ người học thích ứng hiệu quả với môi trường học tập và làm việc hiện đại. Trên cơ sở đó, bài báo này cung cấp một tổng quan toàn diện về các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực kỹ thuật số của sinh viên đại học.
Từ khóa: Sinh viên, năng lực số, chuyển đổi số
Abstract
In the context of the rapid development of the digital society, digital competence has increasingly become an essential requirement for both personal and professional activities, particularly for university students. As the ways individuals access information and construct personal knowledge continue to evolve, educational systems need to innovate their approaches to effectively support learners in adapting to modern learning and working environments. Based on this premise, this paper provides a comprehensive review of studies related to the factors influencing the digital competence of university students.
Keywords: University students, digital competence, digital transformation.
1. Giới thiệu
Sinh viên hiện đang chịu đang tộng trực tiếp từ sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông, thể hiện sự gắn bó và hội nhập cao với các thiết bị công nghệ như máy tính, trò chơi điện tử, máy nghe nhạc kỹ thuật số, máy quay video, điện thoại di động và nhiều công cụ khác phổ biến trong thời đại kỹ thuật số hiện nay (Kennedy & Fox, 2013).
Năng lực số của sinh viên đóng vai trò quan trọng trong mô hình học tập mới (Zhao et al., 2021). Năng lực số được hiểu là một thành phần có lợi cho phép sử dụng thái độ, kiến thức và quy trình liên quan đến công nghệ thông tin và truyền thông, thông qua đó sinh viên có được các kỹ năng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao kiến thức và tạo ra sự đổi mới (Iordache et al., 2017).
Năng lực số đang trở thành một chủ đề phổ biến hơn trong nhiều bài nghiên cứu. Năng lực số liên quan đến việc sử dụng CNTT được kiểm tra và đánh giá ở sinh viên đại học (Galindo-Domínguez & Bezanilla 2021; Martzoukou et al., 2020; Silva-Quiroz & Morales-Morgado, 2022; Vishnu et al., 2022; Zhao et al., 2021), cũng như ở cấp trung học (Calvani et al., 2009) hoặc đang hướng đến việc phát triển các kỹ năng này ở giáo viên (Romero-Tena et al., 2021) hoặc lực lượng lao động khác (Murawski & (Bick, 2017; Shiferaw et al., 2020) nhằm tạo ra môi trường giáo dục quan trọng cho công dân tương lai.
Để có thể phát triển năng lực kỹ thuật số của sinh viên một cách có chủ đích, cần phải tìm ra những yếu tố nào ảnh hưởng và tạo ra trình độ năng lực kỹ thuật số cao hơn. Bài tổng quan này nhằm mục đích cung cấp một cái nhìn tổng quát toàn diện về các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực kỹ thuật số của sinh viên đại học. Bài báo cung cấp một cái nhìn tổng quát toàn diện về các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực kỹ thuật số của sinh viên đại học.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để minh họa kết quả tìm kiếm của nghiên cứu và cung cấp tổng quan về các các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực số của sinh viên, tác giả đã c sử dụng phương pháp đánh giá tổng quan, dựa trên khung của Arksey và O’Malley (2005), bao gồm năm bước: (1) Xác định câu hỏi nghiên cứu; (2) Xác định các nghiên cứu liên quan; (3) Lựa chọn nghiên cứu; (4) Lập bảng dữ liệu; (5) Tổng hợp, tóm tắt và báo cáo kết quả. Các bài nghiên cứ được tìm kiếm trong các cơ sở dữ liệu sau: EBSCOhost, Web of Science, Science Direct và Scopus... Các nghiên cứu được đưa vào nếu tập trung chủ yếu vào các nghiên cứu sơ cấp về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực kỹ thuật số của sinh viên đại học.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Việc áp dụng các phương pháp chuyển đổi số vào lĩnh vực giáo dục đại học đã thu hút sự quan tâm trong thời gian gần đây, kết quả nghiên cứu mô tả các mối quan hệ phức tạp giữa các bên liên quan trong một môi trường giáo dục được hỗ trợ bởi công nghệ. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực kỹ thuật số được các nghiên cứu chỉ ra gồm : các yếu tố nhân khẩu học xã hội, các yếu tố cá nhân, các yếu tố gia đình, các yếu tố cá nhân trong học tập và môi trường học tập, và các yếu tố bên ngoài.
Thứ nhất các yếu tố nhân khẩu học:
Yếu tố về giới tính: Kết quả nghiên cứu của Nguyen & Habók, 2022; Prabhu et al., 2022; Vishnu et al., 2022; Wild & Schulze Heuling, 2020; Zhao et al., 2021 đã chỉ ra giới tính có ảnh hưởng đến năng lực số của sinh viên cụ thể nam giới tự đánh giá năng lực kỹ thuật số cao hơn nữ giới; Tuy nhiên, một số nghiên cứu chỉ ra rằng giới tính không có tác động đáng kể đến năng lực kỹ thuật số (Koyuncuoglu, 2022; Vázquez-Cano et al., 2017).
Yếu tố về vị trí địa lý: Nghiên cứu của Silva Quiroz & Morales-Morgado, 2022; Zhao et al., 2021 cho thấy sinh viên sống ở thành phố có năng lực số của sinh viên cao hơn so với sinh viên ở khu vực nông thôn Sự khác biệt này do ở khu vực nông thôn sự sẵn có của các nguồn lực như internet tốc độ cao, thiết bị máy tính và cơ sở hạ tầng liên quan đến công nghệ bị hạn chế hơn so với khu vực thành thị. Ngoài ra, sinh viên ở khu vực thành thị có thể tiếp xúc nhiều hơn với các công cụ và tài nguyên kỹ thuật số do gần các trung tâm đô thị, nơi các tiến bộ công nghệ được giới thiệu và sử dụng thường xuyên hơn.
Yếu tố về độ tuổi: các nghiên cứu chỉ ra độ tuổi có ảnh hưởng đến năng lực số của sinh viên, Cabero-Almenara và cộng sự, 2022 thực hiện tại nghiên cứu tại Tây Ban Nha, chỉ ra sinh viên trẻ tuổi hơn có trình độ năng lực kỹ thuật số cao hơn. Tuy nhiên nghiên cứu của Nguyen & Habók, 2022; Vishnu et al., 2022; Wild & Schulze Heuling, 2020; Zhao et al., 2021) lại chỉ ra sinh viên lớn tuổi hơn lại thể hiện trình độ năng lực kỹ thuật số cao hơn, sinh viên năm cuối thể hiện mức độ năng lực kỹ thuật số cao hơn.
Thứ hai yếu tố thuộc về cá nhân sinh viên
Yếu tố thuộc về cá nhân sinh viên được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đế năng lực số của sinh viên như đào tạo trước đó về công nghệ thông tin, nỗ lực cá nhân để học công nghệ thông tin, tham gia các khóa đào tạo ngắn hặn về công nghệ số, tự tin về khả năng sử dụng công nghệ, quản lý thời gian và kết quả học tập.
Kết quả của các nghiên cứu được đưa vào cho thấy có mối liên hệ giữa đào tạo trước đó trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và sự phát triển năng lực số sau đó của sinh viên; nghĩa là, sinh viên đã được đào tạo trước đó thể hiện mức độ năng lực số cao hơn (Kim và cộng sự, 2018; Zhao và cộng sự, 2021). Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra có mối tương quan tích cực giữa năng lực số của sinh viên và sự tham gia các khóa học ngắn hạn về công nghệ theo nhu cầu và sở thích cá nhân của sinh viên. Sinh viên có năng lực kỹ thuật số cao hơn được phát hiện tham gia vào học tập phi chính quy kỹ thuật số nhiều hơn so với những sinh viên có năng lực kỹ thuật số thấp hơn.
Mặt khác, nghiên cứu của Galindo-Domínguez & Bezanilla, (2021) được thực hiện ở Tây Ban Nha, cho thấy những sinh viên quản lý thời gian hiệu quả hơn và có kết quả học tập cao hơn cũng thể hiện mức độ năng lực kỹ thuật số cao hơn. Các tác giả của nghiên cứu nhấn mạnh rằng những người có hiểu biết vững chắc về việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho nhiều mục đích khác nhau (thực hiện các nhiệm vụ khác nhau, tìm kiếm thông tin, giải quyết vấn đề, v.v.) sẽ có khả năng giải quyết nhiệm vụ và quản lý thời gian tốt hơn. Tương tự, (Koyuncuoglu, 2022) cũng cho rằng những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc thể hiện năng lực kỹ thuật số vượt trội hơn so với những bạn cùng trang lứa có thành tích học tập thấp hoặc trung bình (Koyuncuoglu, 2022).
Các nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa niềm tin động lực và năng lực số của sinh viên đại học tại Malaysia. Kết quả cho thấy niềm tin về giá trị nhiệm vụ và các chiến lược định hướng mục tiêu thúc đẩy khả năng đọc viết kỹ thuật số. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng sự tự tin về công nghệ là yếu tố quan trọng thứ hai trong việc tăng năng lực số cho sinh viên bởi sinh viên có độ tự tin cao thường mạnh dạn thử những điều mới mẻ hơn và nỗ lực, kiên trì, và bền bỉ hơn trong việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập kỹ thuật số (Prior et al., 2016; Shopova, 2014).
Thứ ba là các yếu tố khác
Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Galin do-Domínguez & Bezanilla, 2021; Koyuncuoglu, 2022; Martzoukou et al., 2020; Wild & Schulze Heuling, 2020; cũng chỉ ra năng lực kỹ thuật số của sinh viên cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như chuyên ngành, trình độ học tập, hình thức học tập, cách tiếp cận việc học của sinh viên, đề cương chương trình giảng dạy và vai trò của giảng viên. Cụ thể là, trong một nghiên cứu do Zhao et al., 2021 thực hiện, người ta phát hiện ra rằng sinh viên nữ thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn và gia đình có thu nhập thấp thể hiện năng lực kỹ thuật số yếu nhất so với sinh viên thuộc các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Nghiên cứu của Arango-Morales và cộng sự (2019) cho thấy chương trình giảng dạy có liên quan đến các khía cạnh năng lực số. Mối liên hệ giữa vai trò giảng dạy với đề xuất chương trình giảng dạy cho thấy kỹ năng giảng dạy, việc sử dụng các phương pháp giảng dạy và kinh nghiệm chuyên môn của giảng viên với tư cách là người truyền đạt kiến thức hỗ trợ việc quản lý hiệu quả đề xuất chương trình giảng dạy (Arango–Morales et al., 2019). Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị các năng lực số thiết yếu hiện nay, cần phải xem xét lại kế hoạch chương trình giảng dạy để thích ứng tốt hơn với nhu cầu về năng lực kỹ thuật số của sinh viên. Nghiên cứu Martzoukou, 2022, đã phát hiện ra rằng sự tham gia hàng ngày của sinh viên với tư cách là công dân kỹ thuật số có thể đóng góp vào một số kỹ năng thiết yếu, chẳng hạn như khả năng xác định thông tin trong các ngữ cảnh khác nhau, học tập kỹ thuật số của sinh viên, khả năng hoàn thành công việc học tập bằng kỹ thuật số, kỹ năng đọc hiểu thông tin và kỹ năng quản lý sức khỏe và danh tính kỹ thuật số của họ.
4. Kết luận
Tổng quan các công công trình nghiên cứu cho thấy năng lực số của sinh viên đại học là kết quả của sự tương tác đa chiều giữa nhiều nhóm yếu tố, bao gồm bối cảnh kinh tế – xã hội, đặc điểm cá nhân và gia đình, môi trường học tập cũng như các yếu tố bên ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên được tiếp xúc và trải nghiệm trong môi trường số phong phú, cả ở gia đình và cơ sở giáo dục, có xu hướng sử dụng công nghệ một cách hiệu quả và có mục đích hơn trong học tập.
Thông qua kết quả nghiên cứu, một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc thiết kế các chiến lược hỗ trợ mang tính cá nhân hóa, dựa trên nền tảng kinh nghiệm số, đặc điểm cá nhân, thái độ và mức độ sẵn sàng của người học. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần nâng cao năng lực số mà còn thúc đẩy khả năng thích ứng linh hoạt của sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng sâu rộng trong giáo dục đại học.
Tài liệu tham khảo
1. Arksey, H., & O’Malley, L. (2005). Scoping studies: Towards a Methodological Framework. International Journal of Social Research Methodology, 8, 19–32. https://doi.org/10.1080/1364557032000119616
2. Cabero-Almenara, J., Gutiérrez-Castillo, J. J., Guillén-Gámez, F. D., & Gaete-Bravo, A. F. (2022). Digital Competence of Higher Education Students as a Predictor of Academic Success. Technology, Knowledge and Learning, 28(2), 683–702. https://doi.org/10.1007/s10758-022-09624-8
3. Calvani, A., Cartelli, A., Fini, A., & Ranieri, M. (2009). Models and Instruments for assessing Digital Competence at School. Journal of E-Learning and Knowledge Society, 4(3). https://doi. org/10.20368/1971-8829/288
4. Galindo-Domínguez, H., & Bezanilla, M.J. (2021). Promoting Time Management and Self-Efficacy Through Digital Competence in University Students: A Mediational Model. Contemporary Educational Technology. Education, 14(44). https://doi.org/10.1186/s41239-017-0082-x
5. Iordache, C., Mariën, I., & Baelden, D. (2017). Developing Digital Skills and Competences: A QuickScan Analysis of 13 Digital Literacy Models. Italian Journal of Sociology of Education, 9(1), 6–30. https:// doi.org/10.14658/pupj-ijse-2017-1-2
6. Kennedy, D. M., & Fox, B. (2013). “Digital Natives”: An Asian Perspective for Using Learning Technologies. International journal of education and development using information and communication technology, 9, 64–79.
7. Kim, H., Hong, A., & Song, H.-D. (2018). The Relationships of Family, Perceived Digital Koyuncuoglu, D. (2022). Analysis of digital and technological competencies of university students. International Journal of Education in Mathematics, Science, and Technology (IJEMST), 10(4), 971–988. https://doi.org/10.46328/ijemst.2583
8. Martzoukou, K., Fulton, C., Kostagiolas, P., & Lavranos, C. (2020). A study of higher education students’ self-perceived digital competences for learning and everyday life online participation. Journal of Documentation, 76(7), 1413–1458. https://doi.org/10.1108/JD-08-2019-0136
9. Murawski, M., & Bick, M. (2017). Digital competences of the workforce—A research topic? Business Process Management Journal, 23(4), 721–734.
10. Nguyen, L. A. T., & Habók, A. (2022). Digital literacy of EFL students: An empirical study in Vietnamese universities. Libri, 72(1), 53–66.
11. Prabhu, D., Mallya, J., Patwardhan, V., & Nayak, A. (2022). Digital Competence and the Gender Gap: A Case Study of Hospitality Students. International Journal of Media and Information Literacy, 7(1), 190–196. https://doi.org/10.13187/ijmil.2022.1.190
12. Prior, D. D., Mazanov, J., Meacheam, D., Heaslip, G., & Hanson, J. (2016). Attitude, digital literacy and self efficacy: Flow-on effects for online learning behavior. The Internet and Higher Education, 29, 91–97.
13. Romero-Tena, R., Llorente-Cejudo, C., Puig-Gutiérrez, M., & Barragán-Sánchez, R. (2021). The Pandemic and Changes in the Self-Perception of Teacher Digital Competences of Infant Grade Students: A Cross Sectional Study. International Journal of Environmental Research and Public Health, 18(9), 4756. https://doi.org/10.3390/ijerph18094756
14. Shiferaw, K.B., Tilahun, B.C. & Endehabtu, B.F. (2020). Healthcare providers’ digital competency: a crosssectional survey in a low-income country setting. BMC Health Services Research,20, 1021.https://doi.org/ 10.1186/s12913-020-05848-5
15. Silva-Quiroz, J., & Morales-Morgado, E.M. (2022). Assessing digital competence and its relationship with the socioeconomic level of Chilean university students. International Journal of Educational Technology in Higher Education, 19, 1–18.
16. Vázquez-Cano, E., Meneses, E.L., & García-Garzón, E. (2017). Differences in basic digital competences between male and female university students of Social Sciences in Spain. International Journal of Educational Technology in Higher Education, 14(1), 27. https://doi.org/10.1186/s41239-017-0065-y
17. Wild, S., & Schulze Heuling, L. (2020). How do the digital competences of students in vocational schools differ from those of students in cooperative higher education institutions in Germany? Empirical Research in Vocational Education and Training, 12(5), 1–21. https://doi.org/10.1186/s40461-020- 0009
18. Zhao, Y., Sánchez Gómez, M. C., Pinto Llorente, A. M., & Zhao, L. (2021). Digital Competence in Higher Education: Students’ Perception and Personal Factors. Sustainability, 13, 12184. https://doi.org/ 10.3390/su132112184
Nguyễn Công Lưu, Hoàng Nguyễn Trâm Chi,
Hoàng Thị Quỳnh Chi, Nguyễn Thị Triệu Vi, Trần Thị Phương Nhung
Trường Kinh tế, Trường Đại học Vinh
Tạp chí in số tháng 5/2026
email: [email protected], hotline: 086 508 6899
Tag:












