Phát triển kinh tế tư nhân gắn với tăng trưởng kinh tế bền vững
TCDN - Nghiên cứu này đánh giá thực trạng khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thời gian qua và đưa ra các kiến nghị giải pháp phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân gắn với mục tiêu tăng trưởng bề vững.
Tóm tắt:
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng năm 2026, kinh tế tư nhân được xác định là lực lượng đóng vai trò then chốt. Kinh tế tư nhân phải là lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, có trách nhiệm xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, tham gia xây dựng xã hội văn minh, hiện đại và góp phần xây dựng một Việt Nam năng động và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển bởi nhiều nguyên nhân bất cập. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thời gian qua và đưa ra các kiến nghị giải pháp phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân gắn với mục tiêu tăng trưởng bề vững.
Từ khoá: kinh tế tư nhân, tăng trưởng kinh tế, kinh tế
1. Đặt vấn đề
Với gần một triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội. Kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, thể hiện qua những đóng góp quan trọng vào GDP, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, mở rộng thị trường và giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, kinh tế tư nhân Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, từ rào cản thể chế, môi trường kinh doanh chưa thuận lợi đến hạn chế trong tiếp cận vốn và công nghệ. Dù đóng góp hơn 42-45% GDP, khu vực này vẫn chưa phát triển xứng tầm do thủ tục hành chính còn phức tạp, chi phí không chính thức cao và khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế. Hơn 50% doanh nghiệp tư nhân phản ánh rằng họ phải chịu nhiều đợt thanh tra, kiểm tra trong năm, gây lãng phí thời gian và chi phí. Bên cạnh đó, doanh nghiệp tư nhân chủ yếu có quy mô nhỏ, chiếm 96% tổng số doanh nghiệp, trong khi số doanh nghiệp lớn, có khả năng cạnh tranh toàn cầu như VIetjet, Vingroup, Masan, FPT hay VinFast… vẫn còn ít.
Với định hướng chiến lược rõ ràng của Đảng và sự vào cuộc nhanh nhạy của Chính phủ, cơ hội phát triển của kinh tế tư nhân đang mở ra mạnh mẽ. Chính phủ đang đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, hỗ trợ tín dụng và thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia vào các ngành công nghệ cao, công nghiệp chế biến chế tạo – những lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ. Nếu rào cản về thể chế, vốn và công nghệ được tháo gỡ hiệu quả, khu vực tư nhân có thể tạo ra bước nhảy vọt, đưa nền kinh tế Việt Nam vào quỹ đạo tăng trưởng trên 10%/năm.
Để thúc đẩy kinh tế tư nhân đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026, cần triển khai các giải pháp đồng bộ, toàn diện, dựa trên các chính sách của Đảng, Nhà nước và thực trạng phát triển của khu vực này.
2. Vai trò kinh tế tư nhân
Bộ Tài chính cho biết, từ đầu năm đến hết tháng 5/2026, tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) của khu vực ngoài quốc doanh ước đạt 67,9% dự toán, tăng 43,6% so với cùng kỳ năm trước. Trước đó, trong năm 2026, tổng thu NSNN của khu vực ngoài quốc doanh ước đạt 502.600 tỷ đồng, đạt 135,7% so với dự toán, tăng 61,2 nghìn tỷ đồng so với số đã báo cáo Quốc hội. Tổng thu NSNN từ hộ, cá nhân kinh doanh tăng hơn 36,3% so với năm 2024 - là mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2021 - 2026. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 5/2026, tổng thu NSNN của khu vực ngoài quốc doanh ước đạt 67,9% dự toán, tăng 43,6% so với cùng kỳ.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, sau 1 năm Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, tác động của Nghị quyết bước đầu thể hiện qua sự gia tăng mạnh mẽ số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh gia nhập, tái gia nhập thị trường; diễn biến tích cực trên thị trường chứng khoán; sự khởi sắc của hoạt động xuất nhập khẩu và đóng góp ngày càng lớn hơn của khu vực kinh tế tư nhân vào thu NSNN.
Về tình hình gia nhập thị trường của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, ngay sau khi Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ, thể hiện rõ qua số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký mới và quay trở lại hoạt động tăng đột biến. Từ tháng 5/2026, bình quân mỗi tháng có khoảng 18 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 37,8% so với bình quân 4 tháng đầu năm; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động đạt hơn 8,3 nghìn doanh nghiệp/tháng. Tính chung năm 2026, cả nước có gần 297,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024; tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân ước đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8%.
Đà phục hồi và gia nhập thị trường tiếp tục được duy trì trong 4 tháng đầu năm 2026, cả nước đạt 77.817 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký hơn 730 nghìn tỷ đồng và gần 400 nghìn lao động, tăng lần lượt hơn 50,7% về số doanh nghiệp và gần 50% về vốn so với cùng kỳ năm 2026. Cùng kỳ, hơn 41 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2026, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên gần 120 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,8%.
Tuy nhiên, để khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng giúp Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong những năm tới, theo TS. Nguyễn Minh Thảo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cần tạo thêm những động lực phát triển mới. Bà cho rằng tăng trưởng hiện nay không còn diễn ra theo trình tự truyền thống mà ngày càng phụ thuộc vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nếu doanh nghiệp được tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng công nghệ, nâng cao năng suất và tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế sẽ được cải thiện đáng kể.
Theo nữ chuyên gia, cải cách thể chế vẫn là yếu tố mang tính quyết định. Dù hệ thống chủ trương, chính sách về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo cơ bản đã khá đầy đủ, song điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở khâu thực thi. Tâm lý e ngại rủi ro, sợ sai, sợ trách nhiệm tại một số cơ quan thực hiện đang khiến nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chưa được triển khai với tốc độ như kỳ vọng. Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, các cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ thực thi để các chủ trương, chính sách mới có thể nhanh chóng đi vào cuộc sống.
3. Một số kiến nghị
3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và cải cách thể chế
3.1.1 Đơn giản hóa thủ tục hành chính
Rà soát và cắt giảm thủ tục: Tiếp tục rà soát và cắt giảm ít nhất 20% thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký kinh doanh, cấp phép đầu tư, nộp thuế và xuất nhập khẩu vào năm 2026. Mục tiêu là giảm thời gian đăng ký kinh doanh xuống dưới 3 ngày và thời gian nộp thuế xuống dưới 300 giờ/năm. Điển hình như năm 2024, Bộ Tài chính đã cắt giảm 30% thủ tục kê khai thuế, giúp doanh nghiệp tiết kiệm 10-15% chi phí tuân thủ.
Chuẩn hóa quy trình: Xây dựng các quy trình hành chính thống nhất trên toàn quốc, tránh sự khác biệt giữa các địa phương. Áp dụng mô hình “một cửa liên thông” tại tất cả các tỉnh, thành phố để giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Tăng cường dịch vụ công trực tuyến: Mở rộng và nâng cấp Cổng Dịch vụ công Quốc gia, đảm bảo 100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được cung cấp ở mức độ 4 (xử lý hoàn toàn trực tuyến) vào năm 2026.
3.1.2. Minh bạch hóa và đơn giản hóa chế độ kế toán, thuế
Xóa bỏ thuế khoán: Thực hiện lộ trình xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh chậm nhất trong năm 2026, thay bằng phương pháp kê khai đơn giản hóa, phù hợp với DNNVV và hộ kinh doanh cá thể.
Cung cấp công cụ hỗ trợ miễn phí: Chính phủ cần cung cấp miễn phí các phần mềm kế toán, kê khai thuế (như eTax, iHĐ) và tổ chức các chương trình tập huấn trực tuyến để hướng dẫn doanh nghiệp sử dụng. Mục tiêu là 80% DNNVV áp dụng kế toán số vào năm 2026.
Giảm tần suất thanh tra thuế: Giới hạn tần suất thanh tra thuế xuống 1 lần/năm đối với DNNVV, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng, để giảm áp lực cho doanh nghiệp.
3.1.3. Sửa đổi các quy định pháp luật
Đồng bộ hóa các luật liên quan: Rà soát và sửa đổi các quy định trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đất đai và Luật Đấu thầu để đảm bảo tính nhất quán, loại bỏ các quy định mâu thuẫn.
Xây dựng khung pháp lý cho kinh tế số và xanh: Ban hành các quy định hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tham gia kinh tế số (thương mại điện tử, AI) và kinh tế xanh (năng lượng tái tạo, sản phẩm tái chế), phù hợp với cam kết quốc tế.
Tăng cường bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp: Xây dựng cơ chế pháp lý để giảm thiểu tác động của các vụ án điều tra đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các vụ việc liên quan đến tài sản thế chấp hoặc tranh chấp pháp lý.
3. 2. Giải pháp tăng cường tiếp cận nguồn lực
3.2.1. Cải thiện tiếp cận vốn tín dụng
Giảm lãi suất và nới room tín dụng: Ngân hàng Nhà nước cần chỉ đạo các tổ chức tín dụng giảm chi phí vận hành để hạ lãi suất cho vay xuống mức 6-8%/năm cho DNNVV, đồng thời nới room tín dụng lên 16% trong năm 2026 (từ mức 14% năm 2024). Các gói tín dụng ưu đãi cần được thiết kế riêng cho các ngành chiến lược như công nghệ xanh, nông nghiệp công nghệ cao. Ví dụ: Năm 2024, chương trình tín dụng ưu đãi 120.000 tỷ đồng cho ngành nông nghiệp đã giúp hơn 10.000 DNNVV tiếp cận vốn với lãi suất 4-6%/năm.
Đơn giản hóa thủ tục vay vốn: Phát triển các nền tảng số để doanh nghiệp nộp hồ sơ vay trực tuyến, giảm thời gian xét duyệt từ 30 ngày xuống 7-10 ngày. Áp dụng mô hình chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền thay vì tài sản thế chấp.
Hỗ trợ bảo lãnh tín dụng: Tăng cường vai trò của Quỹ Bảo lãnh tín dụng DNNVV để hỗ trợ các doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp, với mục tiêu bảo lãnh cho 50.000 doanh nghiệp vào năm 2026.
3.2.2. Hỗ trợ tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất
Hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai: Hoàn thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong năm 2026, tích hợp với Trung tâm dữ liệu quốc gia, để cung cấp thông tin minh bạch về giá đất, quỹ đất công nghiệp và thủ tục thuê đất.
Kiểm soát giá đất công nghiệp: Áp dụng các biện pháp kiểm soát giá thuê đất tại các khu công nghiệp, đồng thời cung cấp ưu đãi thuê đất (giảm 20-30% giá thuê trong 3-5 năm đầu) cho DNNVV trong các ngành ưu tiên.
Phát triển các cụm công nghiệp: Đầu tư xây dựng 200 cụm công nghiệp mới vào năm 2026, với chi phí thuê thấp và cơ sở hạ tầng hiện đại, dành riêng cho DNNVV và hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Ví dụ: Cụm công nghiệp tại Bắc Giang đã giúp hơn 100 DNNVV giảm chi phí sản xuất nhờ cơ sở hạ tầng đồng bộ và giá thuê ưu đãi.
5.2.3. Thúc đẩy đầu tư công và tư nhân
Tăng tốc giải ngân đầu tư công: Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công đạt 95-100% kế hoạch (khoảng 825,9 nghìn tỷ đồng) trong năm 2026, tập trung vào các dự án hạ tầng giao thông, cảng biển và năng lượng tái tạo để tạo hiệu ứng lan tỏa cho kinh tế tư nhân.
Khuyến khích đầu tư tư nhân: Tạo cơ chế ưu đãi thuế và đất đai cho doanh nghiệp tư nhân tham gia các dự án đối tác công-tư (PPP) trong các lĩnh vực hạ tầng, y tế và giáo dục.
Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp: Cung cấp các gói hỗ trợ vốn mồi (seed funding) và quỹ đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, với mục tiêu hỗ trợ 5.000 startup vào năm 2026.
3.3 Giải pháp đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
3.3.1. Hỗ trợ đổi mới sáng tạo
Tăng đầu tư vào R&D: Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào R&D thông qua các chính sách ưu đãi thuế (miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp 50% cho chi phí R&D) và các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Mục tiêu là 35-40% DNNVV tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo hàng năm vào năm 2026. Ví dụ: Quỹ Đổi mới sáng tạo Quốc gia đã hỗ trợ hơn 1.000 dự án khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn 2020-2024, giúp tăng doanh thu trung bình 15% cho các doanh nghiệp tham gia.
Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp: Phát triển các vườn ươm doanh nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo (như Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia - NIC) tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng. Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu để chuyển giao công nghệ.
Khuyến khích sở hữu trí tuệ: Đơn giản hóa thủ tục đăng ký bản quyền, sáng chế và cung cấp hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đăng ký sở hữu trí tuệ tại thị trường quốc tế.
3.3.2. Đẩy mạnh chuyển đổi số
Cung cấp nền tảng số miễn phí hoặc chi phí thấp: Chính phủ cần hỗ trợ các DNNVV tiếp cận các phần mềm quản lý như 1Office, Fastdo hoặc Base.vn với chi phí ưu đãi. Đồng thời, tổ chức các chương trình đào tạo trực tuyến về sử dụng công nghệ số. Ví dụ: Chương trình “Chuyển đổi số quốc gia” đã hỗ trợ hơn 10.000 DNNVV áp dụng phần mềm quản lý bán hàng, tăng hiệu quả vận hành 20-30% trong năm 2024.
Phát triển hạ tầng số: Đầu tư vào hạ tầng công nghệ thông tin, như mạng 5G và trung tâm dữ liệu, để đảm bảo kết nối ổn định và tốc độ cao cho doanh nghiệp. Mục tiêu là phủ sóng 5G toàn quốc vào năm 2026.
Khuyến khích mô hình sản xuất thông minh: Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân áp dụng các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và robot trong sản xuất. Cung cấp các gói vay ưu đãi hoặc trợ cấp 30-50% chi phí đầu tư vào nhà máy thông minh.
3.3.3. Xây dựng khung pháp lý hỗ trợ kinh tế số
Hoàn thiện quy định pháp luật: Ban hành các quy định về giao dịch điện tử, bảo mật dữ liệu và chữ ký số để tạo môi trường pháp lý an toàn cho doanh nghiệp tham gia kinh tế số. Ví dụ, Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) cần được hoàn thiện trong năm 2026.
Khung pháp lý cho kinh tế xanh: Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp áp dụng công nghệ xanh, như sản xuất năng lượng tái tạo hoặc sản phẩm tái chế.
Bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng: Tăng cường các quy định về an ninh mạng để bảo vệ doanh nghiệp trước các cuộc tấn công mạng, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ triển khai các giải pháp bảo mật cơ bản.
3.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng suất lao động
3.4.1 Đào tạo và bồi dưỡng doanh nhân
Tổ chức các khóa đào tạo quản trị: Chính phủ và các hiệp hội doanh nghiệp cần phối hợp tổ chức các khóa học ngắn hạn và dài hạn về quản trị doanh nghiệp, quản trị tài chính, marketing số, và chuyển đổi số. Các chương trình này nên ưu tiên nhóm yếu thế như thanh niên, phụ nữ, và đồng bào dân tộc thiểu số. Ví dụ: Chương trình “Doanh nhân trẻ khởi nghiệp” của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có thể được mở rộng, với mục tiêu đào tạo 10.000 doanh nhân trẻ trong năm 2026.
Hỗ trợ tư vấn chuyên sâu: Cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí hoặc chi phí thấp về kế toán, thuế, và pháp luật cho các hộ kinh doanh và DNNVV, giúp họ nâng cao năng lực quản lý.
Xây dựng mạng lưới cố vấn: Kết nối các doanh nhân trẻ với các cố vấn giàu kinh nghiệm từ các tập đoàn tư nhân lớn như Vingroup, FPT để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn.
3.4.2. Nâng cao kỹ năng cho người lao động
Đào tạo kỹ năng số và công nghệ cao: Tăng cường các chương trình đào tạo về AI, dữ liệu lớn (big data), và sản xuất thông minh, đặc biệt cho lao động trong các ngành chiến lược như công nghệ thông tin, điện tử, và năng lượng tái tạo.
Mục tiêu: Đào tạo lại (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling) cho ít nhất 500.000 lao động trong khu vực kinh tế tư nhân vào năm 2026.
Hợp tác công-tư trong đào tạo nghề: Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác với các trường đại học, cao đẳng nghề để thiết kế chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế. Ví dụ, mô hình đào tạo kép của Đức có thể được áp dụng, kết hợp học lý thuyết tại trường và thực hành tại doanh nghiệp.
Chứng chỉ kỹ năng quốc tế: Hỗ trợ lao động đạt các chứng chỉ quốc tế (như AWS, Cisco, hoặc Microsoft) để đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu.
3.4.3. Đầu tư vào công nghệ để nâng cao năng suất
Ứng dụng công nghệ hiện đại: Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào tự động hóa, robot, và phần mềm quản lý (như ERP, CRM) để giảm phụ thuộc vào lao động thủ công và tăng năng suất. Một số Công ty May mặc đã áp dụng hệ thống quản lý sản xuất thông minh, tăng năng suất lao động thêm 15% trong năm 2024.
Hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ: Chính phủ cần cung cấp các gói vay ưu đãi hoặc trợ cấp để DNNVV đầu tư vào công nghệ mới, với mục tiêu 35-40% doanh nghiệp tư nhân tham gia đổi mới sáng tạo hàng năm.
3.5. Giải pháp kích cầu tiêu dùng và mở rộng thị trường
3.5.1 Kích cầu tiêu dùng nội địa
Giảm thuế để giảm giá thành sản phẩm: Tiếp tục áp dụng chính sách giảm 2% thuế giá trị gia tăng (VAT) trong năm 2026 và 2026, đồng thời mở rộng danh mục mặt hàng được giảm thuế (bao gồm thực phẩm, đồ uống, và hàng tiêu dùng thiết yếu). Điều này giúp giảm giá bán lẻ, khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn. Ví dụ như: Trong năm 2023-2024, việc giảm VAT đã giúp tăng doanh số bán lẻ hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) thêm 8-10% ở một số ngành.
Tăng cường chương trình khuyến mại: Đẩy mạnh các chương trình như “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và “Tháng khuyến mại tập trung quốc gia” để thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa trong nước. Các doanh nghiệp tư nhân cần phối hợp với các sàn thương mại điện tử như Shopee, Lazada để tổ chức các chiến dịch giảm giá lớn.
Hỗ trợ ngành du lịch và dịch vụ: Giảm giá vé máy bay, tàu hỏa và các dịch vụ du lịch trong nước, kết hợp với các chương trình quảng bá du lịch như “Du lịch Việt Nam – Điểm đến an toàn, hấp dẫn”. Mục tiêu là tăng trưởng ngành du lịch 15-20% trong năm 2026.
Kích cầu tiêu dùng xanh: Khuyến khích tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường thông qua ưu đãi thuế hoặc trợ giá cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xanh (như bao bì tái chế, sản phẩm tiết kiệm năng lượng).
3.5.2. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu
Mở rộng thị trường mới: Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân thâm nhập các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Trung Đông, châu Phi và Đông Âu, nơi nhu cầu hàng hóa Việt Nam (dệt may, nông sản, thực phẩm chế biến) đang tăng. Chính phủ cần cung cấp thông tin thị trường và tổ chức các đoàn xúc tiến thương mại. Ví dụ: Năm 2024, xuất khẩu nông sản sang Trung Đông tăng 12% nhờ các chương trình xúc tiến của Bộ Công Thương.
Tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA): Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy tắc xuất xứ của các FTA như CPTPP, EVFTA, RCEP để hưởng ưu đãi thuế quan. Tổ chức các khóa đào tạo về quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn quốc tế cho DNNVV.
Xây dựng thương hiệu quốc gia: Đẩy mạnh chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam, giúp các sản phẩm như cà phê, gạo, thủy sản và dệt may nâng cao giá trị trên thị trường toàn cầu. Ví dụ, cà phê Việt Nam đã được quảng bá mạnh tại EU, tăng kim ngạch xuất khẩu thêm 15% trong năm 2024.
3.5.3. Nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh sản phẩm
Đầu tư vào đổi mới sáng tạo: Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) để cải thiện chất lượng sản phẩm, bao bì và thiết kế. Chính phủ có thể cung cấp trợ cấp hoặc vay ưu đãi cho các dự án R&D.
Chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế: Hỗ trợ doanh nghiệp đạt các chứng nhận như ISO, HACCP, hoặc GlobalGAP để đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản. Ví dụ, các doanh nghiệp thủy sản đạt chứng nhận ASC đã tăng giá trị xuất khẩu thêm 20% trong năm 2024.
Ứng dụng thương mại điện tử xuyên biên giới: Hỗ trợ DNNVV tham gia các sàn thương mại điện tử quốc tế như Amazon, Alibaba để mở rộng kênh bán hàng. Chính phủ có thể cung cấp các khóa đào tạo về marketing số và logistics xuyên biên giới.
3.6 Tăng cường vai trò lãnh đạo và quản lý nhà nước
3.6.1. Đổi mới tư duy quản lý
Chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”: Chính phủ cần định vị vai trò là “người dẫn dắt”, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và chủ thể của sự phát triển. Điều này bao gồm việc xây dựng các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh thay vì kiểm soát chặt chẽ. Mô hình “Chính phủ kiến tạo” đã được áp dụng thành công ở Singapore, giúp nước này thu hút nhiều doanh nghiệp tư nhân quốc tế nhờ chính sách linh hoạt và thân thiện.
Xây dựng tầm nhìn dài hạn: Ban hành các chiến lược phát triển kinh tế tư nhân đến năm 2030, với mục tiêu cụ thể như khu vực tư nhân đóng góp 60-65% GDP và hình thành 20 tập đoàn tư nhân lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Tăng cường trách nhiệm giải trình: Yêu cầu các bộ, ngành và địa phương công khai kế hoạch hành động và kết quả thực hiện chính sách, đảm bảo minh bạch và chịu trách nhiệm trước doanh nghiệp và người dân.
3.6.2. Tăng cường đối thoại công-tư
Tổ chức hội nghị đối thoại định kỳ: Duy trì các hội nghị đối thoại giữa Chính phủ, bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp tư nhân ít nhất 2 lần/năm để lắng nghe ý kiến và giải quyết vướng mắc. Các hội nghị cần tập trung vào các vấn đề cụ thể như thuế, đất đai và tiếp cận vốn. Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp năm 2024 đã giải quyết hơn 70% kiến nghị về thủ tục hành chính và tín dụng, giúp tăng niềm tin của doanh nghiệp.
Xây dựng cơ chế phản hồi: Thiết lập các kênh phản hồi trực tuyến (như Cổng Dịch vụ công Quốc gia) để doanh nghiệp báo cáo các khó khăn, đồng thời yêu cầu cơ quan nhà nước trả lời trong vòng 7-10 ngày.
Thành lập tổ công tác đặc biệt: Thành lập các tổ công tác liên ngành do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng đứng đầu để xử lý các vấn đề cấp bách của doanh nghiệp tư nhân, như tranh chấp pháp lý hoặc khó khăn về vốn.
3.6.3. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước
Đào tạo cán bộ quản lý: Tổ chức các chương trình đào tạo cho cán bộ nhà nước về quản trị hiện đại, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, đảm bảo họ có đủ năng lực để hỗ trợ doanh nghiệp.
Ứng dụng công nghệ trong quản lý: Sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (big data) để cải thiện quy trình ra quyết định, giám sát chính sách và dự báo xu hướng kinh tế.
Phân quyền cho địa phương: Tăng cường phân quyền cho các địa phương trong việc phê duyệt dự án đầu tư và cấp phép, đồng thời giám sát chặt chẽ để tránh lạm quyền.
4. Kết luận
Khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trở lên trong năm 2026 và tiến tới tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030. Các giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, với sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, các bộ ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Việc đổi mới tư duy, cải cách thể chế, và hỗ trợ tiếp cận nguồn lực sẽ giúp khu vực tư nhân phát huy tối đa tiềm năng, góp phần đưa Việt Nam đạt quy mô kinh tế trên 500 tỷ USD và GDP bình quân đầu người trên 5.000 USD vào năm 2026.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021), Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam, NXB Thống kê;
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023), Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam, NXB Thống kê;
4. PwC (2023), Doanh nghiệp tư nhân hương tới tương lai bền vững. Hà Nội;
5. Quốc hội (2020), Luật số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020;
6. Tổng cục Thống kê (2022), Các chỉ số doanh nghiệp Việt Nam năm 2022;
7. Viện chiến lược phát triển (2023), Báo cáo 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam. Hà Nội;
8. TS. Ngô Tuấn Anh (2024), Giải pháp phát triển doanh nghiệp tư nhân, truy cập: https://tapchitaichinh.vn/giai-phap-phat-trien-doanh-nghiep-tu-nhan.html
9. Trần Thanh Ngân (2026), Doanh nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp 2020 và những vấn đề đặt ra, truy cập: https://lsvn.vn/doanh-nghiep-tu-nhan-trong-luat-doanh-nghiep-2020-va-nhung-van-de-dat-ra-a158347.html
Võ Minh Ngân
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
email: [email protected], hotline: 086 508 6899
Tag:








