Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh ở Việt Nam: Thực tiễn chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai
TCDN - Quá trình thực hiện chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai đặt ra nhiều khó khăn như: công tác tổ chức giữa các địa phương vẫn chưa thực sự đồng đều, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, cơ quan thuế phải đối mặt với nhiều áp lực, cũng như sự phối hợp giữa các chủ thể liên quan chưa đạt hiệu quả cao.
Tóm tắt:
Chuyển đổi từ hình thức thuế khoán sang phương pháp kê khai đối với hộ kinh doanh là một nội dung quan trọng góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý thuế minh bạch, hiện đại, thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số tại Việt Nam.
Trong giai đoạn đầu triển khai, chính sách đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng đặt ra nhiều khó khăn như: công tác tổ chức giữa các địa phương vẫn chưa thực sự đồng đều, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, cơ quan thuế phải đối mặt với nhiều áp lực, cũng như sự phối hợp giữa các chủ thể liên quan chưa đạt hiệu quả cao. Trên cơ sở phân tích thực tiễn chính sách hiện hành; bài viết đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trong bối cảnh mới.
Từ khóa: thuế khoán; phương pháp kê khai; hộ kinh doanh; quản lý thuế; chuyển đổi số.
Abstract
The transition from the presumptive tax regime to the declaration-based tax method for household businesses is a significant policy initiative that contributes to improving a transparent and modern tax administration system while promoting Vietnam’s digital transformation agenda.
During the initial stage of implementation, the policy has achieved certain positive outcomes. Nevertheless, its implementation has also revealed a number of challenges, including inconsistencies in policy execution across localities, inadequate information technology infrastructure, increasing administrative pressure on tax authorities, and ineffective coordination among relevant stakeholders. Based on an analysis of the current policy implementation, this paper proposes several recommendations and solutions aimed at enhancing the effectiveness of tax administration for household businesses in the new context.
Keywords: presumptive tax regime; declaration-based tax method; household businesses; tax administration; digital transformation.
1. Đặt vấn đề
Hộ kinh doanh là một bộ phận then chốt, đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc dân: tính đến hết tháng 7/2025, tại Việt Nam có khoảng 6,036 triệu hộ kinh doanh; chiếm khoảng 30% GDP cả nước. Những con số này cho thấy hộ kinh doanh là một cấu phần quan trọng của kinh tế tư nhân, khẳng định vai trò không thể thiếu của hộ kinh doanh trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất trong nước, đặc biệt trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại và sản xuất nhỏ. Nhiều năm qua, phần lớn hộ kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế theo phương pháp khoán do ưu điểm về tính đơn giản và phù hợp với điều kiện quản lý. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế số và thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, các hình thức kinh doanh của hộ kinh doanh ngày càng đa dạng, phương pháp khoán thuế dần bộc lộ những hạn chế như việc xác định doanh thu chủ yếu dựa trên ước tính, chưa phản ánh đầy đủ quy mô hoạt động kinh doanh thực tế và tiềm ẩn nguy cơ thất thu ngân sách. Từ đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với cơ quan thuế trong việc hiện đại hóa công tác quản lý.
Chính phủ cùng cơ quan thuế từng bước hoàn thiện chính sách, phương pháp quản lý thuế theo hướng số hóa, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của thời đại mới mới. Cụ thể, Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định rõ yêu cầu rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với hộ kinh doanh; thu hẹp tối đa sự chênh lệch, tạo mọi điều kiện thuận lợi về tổ chức quản trị và chế độ tài chính, kế toán để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp; đồng thời đặt mục tiêu xóa bỏ hình thức thuế khoán chậm nhất trong năm 2026. Có thể khẳng định, chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai đối với hộ kinh doanh thể hiện quyết tâm của ngành Thuế trong mục tiêu hiện đại hóa công tác quản lý; tạo động lực để hộ kinh doanh từng bước phát triển theo hướng chính quy, minh bạch hơn; đóng góp tích cực vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trên cơ sở phân tích thực tiễn triển khai và cách thức áp dụng phương pháp kê khai dưới nhiều góc độ: hộ kinh doanh, cơ quan thuế cùng các chủ thể khác có liên quan; bài viết làm rõ những thành tựu đạt được, những hạn chế còn gặp phải. Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trong thời gian tới.
2. Thực tiễn chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai đối với hộ kinh doanh dưới sự chuẩn bị, hỗ trợ và giám sát quá trình thực thi của cơ quan quản lý
2.1. Chuẩn bị những tiền đề quan trọng nhằm thống nhất cách thức triển khai trước khi chính sách có hiệu lực thực thi
Hoàn thiện thể chế chính sách, phương pháp quản lý thuế hiện đại
Phương thức quản lý thuế đối với hộ kinh doanh từng bước được cải cách, hoàn thiện nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết gắn với mục tiêu chính trị, chiến lược của ngành Tài chính nói chung và ngành Thuế nói riêng. Cụ thể, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã đặt ra mục tiêu “Chấm dứt áp dụng hình thức thuế khoán với hộ kinh doanh chậm nhất vào năm 2026”; tạo điều kiện để hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Theo đó, Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã thể chế hóa chi tiết về quy định hộ và cá nhân kinh doanh sẽ chấm dứt áp dụng phương pháp khoán thuế kể từ ngày 01/01/2026; toàn bộ người nộp thuế thuộc nhóm này phải chuyển dịch sang cơ chế tự kê khai, tự xác định và tự nộp thuế dựa trên doanh thu và hóa đơn thực tế phát sinh. Bên cạnh đó, Nghị định 70/2025/NĐ-CP cũng đã làm rõ các tiêu chí, trường hợp hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu với cơ quan thuế; nhằm hỗ trợ quản lý dòng tiền, minh bạch hóa doanh thu, chống thất thu thuế.
Với trọng trách bám sát những Nghị quyết mang tính bứt phá, Cục Thuế đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm thống nhất cách thức áp dụng phương pháp kê khai trên phạm vi toàn quốc. Đáng chú ý, Công điện số 05/CĐ-CT triển khai Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định doanh thu hộ kinh doanh kê khai trong năm 2026 không được sử dụng làm căn cứ điều chỉnh hoặc truy thu đối với thời kỳ nộp thuế khoán năm 2025, đồng thời không xử phạt vi phạm hành chính đối với các nghĩa vụ thuế đã thực hiện theo phương pháp khoán, trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền phát hiện hành vi che giấu doanh thu làm giảm số thuế phải nộp. Quy định này góp phần tạo tâm lý yên tâm cho hộ kinh doanh khi chuyển sang phương pháp kê khai, hạn chế tâm lý e ngại việc kê khai sẽ làm phát sinh truy thu đối với giai đoạn trước.
Song song với việc hoàn thiện chính sách, cơ quan thuế cũng xác định rõ phương châm triển khai trong giai đoạn đầu là “hỗ trợ trước - giám sát sau”. Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành khẳng định trọng tâm của cơ quan thuế không phải là kiểm tra, xử phạt mà là hỗ trợ thực chất để hộ kinh doanh thực hiện đúng ngay từ kỳ kê khai đầu tiên; đồng thời giao chỉ tiêu chuyển đổi cho từng địa bàn nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi được thực hiện đồng bộ và thống nhất trên phạm vi cả nước.
Chuẩn bị hạ tầng công nghệ và dữ liệu quản lý
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, ngành Thuế tập trung đầu tư hạ tầng công nghệ và chuẩn bị cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý thuế theo phương pháp kê khai. Các dịch vụ thuế điện tử miễn phí trên Cổng thông tin điện tử và ứng dụng eTax Mobile được mở rộng, cho phép hộ kinh doanh thực hiện đăng ký, kê khai và nộp thuế trên môi trường điện tử mọi lúc, mọi nơi. Hệ thống cũng được định hướng sẽ nâng cấp thông minh hơn; đặt ra mục tiêu giúp hộ kinh doanh thực hiện kê khai, nộp thuế điện tử thuận tiện với thao tác đơn giản, dễ làm, dễ nhớ, giảm chi phí tuân thủ, giảm áp lực khi thực hiện nghĩa vụ theo phương thức thuế mới.
Một số địa phương đã chủ động ứng dụng các công nghệ mới trong hỗ trợ người nộp thuế. Tiêu biểu, Thuế thành phố Hà Nội đã nghiên cứu và xây dựng hệ thống Reasoning AI (AI suy luận) và Agentic AI (AI tác nhân) trên ứng dụng iHanoi, cho phép hộ kinh doanh chỉ cần nói hoặc nhắn tin về tình hình kinh doanh, hệ thống sẽ tự động lập và nộp tờ khai; đồng thời hỗ trợ giải đáp các vướng mắc về thủ tục, biểu mẫu thông qua hình thức hội thoại trực tiếp. Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng cũng tham gia hỗ trợ quá trình chuyển đổi, như BIDV phát triển ứng dụng MyShop Pro tích hợp quản lý bán hàng, doanh thu, chi phí, hóa đơn điện tử và tồn kho trên cùng một nền tảng; toàn bộ chứng từ tự động xuất, lưu trữ, đồng bộ; đồng thời miễn phí trọn đời cho các hộ đăng ký trong năm 2025.
Song song với việc phát triển các nền tảng ứng dụng, Bộ Tài chính tăng cường kết nối dữ liệu với Bộ Công an, hệ thống ngân hàng, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan bảo hiểm xã hội để hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) và hệ thống thông tin thống nhất, xuyên suốt; đồng thời chuẩn hóa mã số thuế cá nhân thống nhất với số định danh công dân; giúp quản lý tốt nhất, tránh trùng lặp hay bỏ sót, gian lận thuế. Đây là nền tảng để cơ quan thuế tăng cường quản lý dữ liệu điện tử, phục vụ đối chiếu thông tin trên cơ sở dữ liệu số.
Sự thích ứng nhanh nhạy của một số hộ kinh doanh khi chuẩn bị hướng tới mô hình quản lý mới
Việc mở rộng hóa đơn điện tử và các dịch vụ thuế điện tử đạt kết quả tích cực ngay trước thời điểm chuyển đổi. Tính đến năm 2025, trên 98% hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai đã thực hiện khai, nộp thuế trên môi trường điện tử, cho thấy phương thức giao dịch điện tử đã được áp dụng rộng rãi trong nhóm hộ kinh doanh đang áp dụng phước pháp kê khai. Sự chủ động đáp ứng này đã tạo tiền đề quan trọng nhằm mở rộng quản lý thuế trên nền tảng số khi chuyển đổi phương thức quản lý đối với toàn bộ khu vực hộ kinh doanh.
Đối với hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền theo Nghị định số 70/2025/NĐ-CP, đến ngày 30/6/2025 đã có 110.295 hộ kinh doanh đăng ký sử dụng, trong đó hơn 20.000 hộ nộp thuế khoán có doanh thu dưới 01 tỷ đồng/năm tự nguyện tham gia. Số lượng này cho thấy việc sử dụng hóa đơn điện tử không chỉ được thúc đẩy bởi yêu cầu tuân thủ quy định mà bước đầu đã có sự chủ động tiếp nhận từ một bộ phận hộ kinh doanh chưa thuộc diện bắt buộc. Thêm vào đó, việc hình thành và mở rộng cơ sở dữ liệu từ hóa đơn điện tử và giao dịch thuế điện tử giúp cơ quan thuế có thêm nguồn thông tin phục vụ quản lý doanh thu, kiểm soát nghĩa vụ thuế, giảm dần sự phụ thuộc vào phương thức quản lý dựa trên mức thuế ấn định.
Công tác tuyên truyền, tập huấn và phối hợp hỗ trợ hộ kinh doanh
Nhằm giúp hộ kinh doanh làm quen với phương thức quản lý mới, cơ quan thuế đã triển khai nhiều chương trình tuyên truyền và hỗ trợ trước thời điểm chính sách có hiệu lực. Nổi bật là đợt “Cao điểm Thuế 15 ngày” với thông điệp “Hiểu đúng - Thực hiện đúng - Yên tâm duy trì hoạt động kinh doanh” và chiến dịch “60 ngày cao điểm chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai” theo phương châm “cầm tay chỉ việc”, tập trung hướng dẫn hộ kinh doanh đăng ký, kê khai, sử dụng hóa đơn điện tử và nộp thuế điện tử miễn phí.
Công tác tuyên truyền, tập huấn và hỗ trợ được thực hiện trên phạm vi rộng: Lũy kế đến hết tuần thứ 8 của chiến dịch “60 ngày cao điểm chuyển đổi”, toàn ngành Thuế đã cấp phát hơn 1,3 triệu ấn phẩm tuyên truyền; các tài liệu được sử dụng hiệu quả tại hội nghị hướng dẫn, hoạt động hỗ trợ lưu động ở chợ, tuyến phố kinh doanh; lũy kế trong toàn ngành Thuế đã thực hiện trên 1,4 triệu lượt giải đáp, hỗ trợ hộ kinh doanh. Số lượt hỗ trợ lớn phản ánh nhu cầu thực tế của hộ kinh doanh trong quá trình tiếp cận với phương thức quản lý mới, đồng thời cho thấy cơ quan thuế đã chuyển trọng tâm từ việc chỉ cung cấp thông tin sang trực tiếp giải đáp, hướng dẫn và đồng hành. Kết quả trên khẳng định quy mô và cường độ làm việc rất lớn của cơ quan thuế trước thời điểm chính sách chính thức được triển khai đồng loạt trên phạm vi toàn quốc.
Nhiều địa phương phối hợp với các tổ chức đoàn thể, các ngân hàng để trực tiếp hướng dẫn cài đặt phần mềm, kê khai, sử dụng hóa đơn điện tử và giải đáp các vướng mắc của hộ kinh doanh. Đồng thời, Cục Thuế cũng phối hợp với các tổ chức nghề nghiệp (Hội Kế toán, Hội Kiểm toán viên, các công ty tư vấn...) phát triển các gói dịch vụ kế toán - thuế chi phí thấp dành riêng cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp mới chuyển đổi, góp phần giảm chi phí tuân thủ trong giai đoạn đầu áp dụng chính sách. Đặc biệt, chính quyền địa phương được khuyến khích xây dựng các chương trình hỗ trợ tín dụng, mặt bằng, khởi nghiệp, giúp hộ kinh doanh có điều kiện chuyển lên doanh nghiệp khi đủ năng lực.
2.2. Kết quả đạt được kể từ thời điểm chính thức áp dụng phương pháp kê khai trên phạm vi cả nước
Những tiền đề về thể chế, hạ tầng công nghệ và phương thức hỗ trợ đa dạng được chuẩn bị tương đối toàn diện trước thời điểm chính sách có hiệu lực đã tạo nền tảng vững chắc để hộ kinh doanh, cơ quan Thuế và các chủ thể có liên quan hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của mình khi chính thức bước vào giai đoạn thực thi chính sách. Phương pháp kê khai trong những tháng đầu áp dụng đã ghi nhận được nhiều tín hiệu tích cực, phản ánh hiệu quả ban đầu của quá trình thực thi và là cơ sở để tiếp tục đánh giá, hoàn thiện chính sách trong thời gian tới. Một số kết quả nổi bật được thể hiện cụ thể trên các phương diện sau:
Cơ quan thuế linh hoạt hơn trong tư duy quản lý - ứng với mục tiêu cụ thể ở từng giai đoạn
Sau khi phương pháp kê khai chính thức được áp dụng, cơ quan thuế không chỉ thay đổi phương thức quản lý thuế mà còn chuyển đổi cách thức tổ chức thực thi chính sách theo hướng lấy người nộp thuế làm trung tâm. Cục Thuế đã ban hành Quyết định số 3789/QĐ-CT về Chương trình hành động “Đồng hành cùng hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong tuân thủ pháp luật thuế”, chính thức triển khai từ ngày 01/01/2026. Chương trình khẳng định cam kết “ba không”: không phát sinh thủ tục hành chính mới, không gây phiền hà và không tạo khoảng cách giữa cơ quan quản lý với người nộp thuế; đồng thời xác lập định hướng chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ mệnh lệnh hành chính sang phục vụ và hỗ trợ. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa quản lý thuế và nâng cao tính tự giác tuân thủ của hộ kinh doanh.
Kết quả trong việc ứng dụng chuyển đổi số, bổ sung dữ liệu điện tử và tuân thủ nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh
Một trong những kết quả nổi bật trong giai đoạn đầu triển khai là việc các nền tảng số phục vụ quản lý thuế được triển khai đồng bộ và nhanh chóng được hộ kinh doanh tiếp cận. Tính đến ngày 15/6/2026, có 315.260 hộ kinh doanh đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, tăng 56% so với thời điểm 31/12/2025. Sự gia tăng này phản ánh quá trình chuyển đổi từ phương thức quản lý doanh thu chủ yếu dựa vào ước tính sang quản lý bằng dữ liệu giao dịch điện tử - dựa trên doanh thu thực tế phát sinh đang được hộ kinh doanh nhìn nhận dưới những góc độ tích cực, với nhiều ưu điểm vượt trội và nhiều đặc tính thuận tiện hơn so với phương pháp khoán trước đây. Chính vì vậy, phần lớn hộ kinh doanh sẵn sàng tuân thủ và nhanh chóng thích ứng với hình thức tiếp cận mới.
Việc thực hiện nghĩa vụ thuế bước đầu đã ghi nhận những kết quả tích cực, thể hiện ở cả mức độ tuân thủ của hộ kinh doanh và khả năng hình thành, kết nối dữ liệu phục vụ quản lý thuế. Tính đến ngày 23/6/2026, tỷ lệ nộp tờ khai thuế đúng hạn đạt 98,1% - chiếm gần đa số số hộ kinh doanh thực hiện nghĩa tốt nghĩa vụ kê khai ngay trong giai đoạn đầu áp dụng phương thức quản lý mới. Trong số đó, tỷ lệ nộp bằng phương thức điện tử đạt 99,54%; khẳng định phương thức giao dịch điện tử đã trở thành hình thức thực hiện nghĩa vụ thuế chủ yếu của hộ kinh doanh, thay vì chỉ là một kênh hỗ trợ bổ sung. Bên cạnh đó, 95% hộ kinh doanh đã thông báo thành công số tài khoản ngân hàng, tạo thêm nguồn dữ liệu quan trọng để cơ quan thuế phục vụ công tác quản lý và đối chiếu thông tin tài chính của người nộp thuế.
Những kết quả trên có được nhờ sự hỗ trợ bởi mức độ phổ cập ngày càng rộng của các nền tảng số và cơ chế kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế với hệ thống tài chính - ngân hàng. Cụ thể: có 2,72 triệu hộ, cá nhân kinh doanh (tương ứng 86%) đang hoạt động sử dụng eTax Mobile; cho thấy một bộ phận lớn người nộp thuế đã được đưa vào một kênh tương tác thống nhất với cơ quan thuế, qua đó tạo điều kiện để chuẩn hóa và tập trung hóa thông tin phục vụ quản lý. Bên cạnh đó, 96/99 ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã hoàn thành kết nối, cung cấp thông tin tài khoản thanh toán của người nộp thuế cho cơ quan thuế. Mức độ kết nối này tạo cơ sở để mở rộng khả năng đối chiếu giữa thông tin do người nộp thuế kê khai với dữ liệu tài khoản và giao dịch thanh toán, qua đó nâng cao khả năng nhận diện rủi ro và phát hiện những trường hợp có dấu hiệu chưa tuân thủ. Như vậy, kết quả nổi bật của quá trình chuyển đổi số không chỉ nằm ở việc giúp hộ kinh doanh thực hiện thủ tục thuế thuận tiện hơn, mà còn là bước tiến lớn trong hệ sinh thái dữ liệu phục vụ quản lý của cơ quan thuế; từ quản lý dựa nhiều vào hồ sơ và thông tin do người nộp thuế cung cấp sang khai thác, đối chiếu và phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn để nâng cao hiệu quả quản lý và quản lý rủi ro.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ hộ kinh doanh trong quá trình áp dụng phương thức quản lý thuế mới
Cơ chế hỗ trợ hộ kinh doanh tiếp tục được hoàn thiện nhằm bảo đảm chính sách được triển khai ổn định và bền vững. Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 84/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030, hướng tới nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật, tăng cường tư vấn, phổ biến quy định pháp luật và hỗ trợ hộ kinh doanh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế theo phương pháp kê khai.
Bên cạnh đó, cơ quan thuế tiếp tục cập nhật các tài liệu hướng dẫn, quy trình kê khai trên eTax Mobile và các kênh hỗ trợ trực tuyến sau khi chính sách có hiệu lực, giúp hộ kinh doanh kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện. Đồng thời, cục Thuế cho biết sẽ theo dõi sát các kỳ kê khai quý 2, 3, 4 năm 2026; phân tích dữ liệu tờ khai, hóa đơn, dòng tiền để hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai đúng và xử lý trường hợp che giấu doanh thu. Cho thấy việc chuyển đổi sang phương pháp kê khai không chỉ là sự thay đổi về phương thức xác định nghĩa vụ thuế mà còn là quá trình đồng hành lâu dài nhằm nâng cao năng lực tuân thủ của hộ kinh doanh.
2.3. Những hạn chế trong giai đoạn đầu áp dụng phương pháp kê khai
Hạn chế trong tổ chức thực thi của cơ quan quản lý
- Theo Công văn số 2538/CT-NVT ngày 20/4/2026, Cục Thuế cho biết mức độ tiếp cận và sử dụng các ứng dụng, dịch vụ thuế điện tử, trong đó có eTax Mobile còn chưa thực sự đồng đều giữa các địa phương. Sự chênh lệch đáng kể về hiệu quả tổ chức triển khai ở một số cơ sở đã bộc lộ rõ qua thống kê: có 15/34 Thuế tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ hộ kinh doanh sử dụng eTax Mobile cao hơn mức trung bình ngành; trong khi 19/34 địa phương còn lại thấp hơn mức trung bình. Điều đó cho thấy một số cơ quan thuế chưa thực sự sát sao; chưa rà soát, chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế; chưa bám đúng từng nhóm đối tượng để tổ chức tuyên truyền; đồng thời chưa chủ động phối hợp với các tổ chức, đơn vị cung cấp giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế; làm giảm hiệu quả triển khai trên thực tế.
- Việc chuyển hàng triệu hộ kinh doanh từ phương pháp khoán sang phương pháp kê khai cũng tạo áp lực lớn đối với bộ máy quản lý thuế. Trong khi khối lượng hồ sơ kê khai, theo dõi và quản lý phát sinh tăng mạnh theo chu kỳ tháng hoặc quý, nguồn nhân lực tại nhiều Thuế cơ sở vẫn còn mỏng, có địa phương một công chức phải quản lý hàng trăm, thậm chí hàng nghìn hộ kinh doanh. Nếu không tiếp tục tăng cường ứng dụng công nghệ và phân bổ nguồn lực hợp lý, việc quá tải trong tổ chức thực thi là khó tránh khỏi.
Hạn chế về hạ tầng công nghệ và dữ liệu quản lý:
Việc mở rộng hóa đơn điện tử, kê khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử và ứng dụng eTax Mobile là bước tiến quan trọng trong quá trình hiện đại hóa quản lý thuế. Tuy nhiên, tiến độ triển khai nhanh trong khi hạ tầng kỹ thuật và năng lực công nghệ chưa theo kịp đã phát sinh nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện:
- Thực tế cho thấy Cổng dịch vụ thủ tục hành chính thuế kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia thường xuyên bị nghẽn, người nộp thuế không thể thực hiện thao tác trong nhiều giờ của nhiều ngày trước thời điểm hết hạn thực hiện thủ tục hành chính thuế. Bên cạnh đó, ứng dụng eTax Mobile còn tồn tại nhiều bất cập như hệ thống không hoạt động ổn định; dữ liệu hiển thị chưa chính xác; cơ sở dữ liệu chi tiết về hộ kinh doanh còn rời rạc, chưa được cập nhật kịp thời.
- Việc thiếu các tiêu chí và công cụ phân tích dữ liệu chuyên biệt cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ, khiến cơ quan thuế chưa khai thác hiệu quả dữ liệu điện tử phục vụ giám sát theo phương pháp quản lý mới. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi số trong quản lý thuế tuy đã đạt nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn cần tiếp tục đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật; cơ sở dữ liệu và các hệ thống phân tích dữ liệu thông minh, hiện đại nhằm phục vụ quản lý.
Hạn chế trong cơ chế phối hợp liên ngành:
Quá trình triển khai phương pháp kê khai cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể liên quan. Trên thực tế, sự phối hợp liên ngành vẫn chưa thực sự chặt chẽ và đồng bộ, đặc biệt trong quản lý hóa đơn đầu vào và hoạt động lưu thông hàng hóa. Chẳng hạn, việc cơ quan quản lý thị trường chưa kiểm soát chặt hóa đơn đầu vào ở khâu bán buôn có thể dẫn đến tình trạng hộ kinh doanh thực hiện kê khai đầy đủ lại gặp bất lợi so với các trường hợp không tuân thủ, từ đó ảnh hưởng đến tính công bằng và hiệu quả của chính sách.
Hạn chế trong công tác quản lý đối với mô hình kinh doanh mới:
Với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, một số bất cập trong quy trình thực hiện nghĩa vụ thuế vẫn phát sinh. Có trường hợp sàn thương mại điện tử thực hiện khấu trừ thuế nhưng không tiếp nhận hóa đơn điện tử, trong khi người bán vẫn phải thực hiện nghĩa vụ xuất hóa đơn. Do khoản thanh toán được chuyển cho người bán sau khi đã khấu trừ thuế, việc xuất hóa đơn trong một số trường hợp có thể bị chậm so với thời điểm giao dịch, gây lúng túng cho hộ kinh doanh trong quá trình thực hiện quy định hiện hành. Thực tiễn này cho thấy cơ chế quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để bảo đảm tính thống nhất giữa quy trình giao dịch, thanh toán và thực hiện nghĩa vụ thuế.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện việc triển khai phương pháp kê khai
Nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi của cơ quan quản lý, bao gồm:
- Cơ quan Thuế cần tăng cường rà soát, đánh giá kết quả thực hiện tại từng địa bàn, từng Thuế cơ sở, đặc biệt là những đơn vị có kết quả dưới mặt bằng chung của cả nước hoặc thấp kéo dài ở các chỉ tiêu cụ thể nhằm đảm bảo việc chuyển đổi được triển khai đồng bộ, hạn chế tối đa sự chênh lệch giữa các địa phương. Trên cơ sở đó, Thủ trưởng đơn vị cần trực tiếp chỉ đạo, phân công đầu mối phụ trách, xây dựng kế hoạch triển khai theo tuần, tháng; giao chỉ tiêu cụ thể đến từng phòng, từng đơn vị quản lý địa bàn và thực hiện theo dõi, đánh giá tiến độ định kỳ.
- Tổ chức tổng kết, đánh giá các mô hình triển khai hiệu quả, các cách làm hay và các giải pháp hỗ trợ thiết thực tại những đơn vị có kết quả triển khai cao để phổ biến, nhân rộng và áp dụng thống nhất sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
- Tăng cường rà soát và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong cơ quan thuế nhằm tránh tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ khi chuyển sang phương thức quản lý mới. Đồng thời, cần có cơ chế phân bổ nguồn nhân lực hợp lý giữa các địa bàn, kết hợp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nhằm giảm áp lực cho đội ngũ công chức thuế trong bối cảnh số lượng hộ kinh doanh phải theo dõi, quản lý ngày càng lớn.
Nâng cao hiệu quả tiếp cận của hộ kinh doanh, bao gồm:
- Ngành Thuế cần nghiên cứu đơn giản hóa quy trình, hồ sơ và biểu mẫu kê khai theo hướng dễ hiểu, dễ thực hiện đối với hộ kinh doanh. Đây là nhóm đối tượng có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin không đồng đều, do đó việc thiết kế các quy trình quản lý theo hướng thân thiện với người sử dụng sẽ góp phần nâng cao khả năng tuân thủ tự nguyện và giảm chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế.
- Công tác tuyên truyền nên chuyển từ phương thức đại trà sang hỗ trợ theo nhóm đối tượng. Trên cơ sở phân loại người nộp thuế theo đặc điểm hoạt động (hộ cho thuê bất động sản, hộ kinh doanh trên nền tảng số, hộ kinh doanh truyền thống...), cơ quan thuế cần xây dựng nội dung hướng dẫn và phương thức truyền thông phù hợp, ưu tiên các hộ có phát sinh nghĩa vụ thuế, có tài khoản ngân hàng, điện thoại thông minh và khả năng thực hiện giao dịch điện tử.
- Cơ quan thuế cùng chính quyền địa phương phát động các chương trình khuyến khích người tiêu dùng lấy hóa đơn; tích cực rà soát chống sót hộ khoán; đồng thời nghiên cứu cơ chế hỗ trợ ban đầu để hộ kinh doanh đầu tư máy tính, máy in hóa đơn điện tử, góp phần mở rộng hơn nữa việc sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền.
Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số và hệ thống quản lý dữ liệu, bao gồm:
- Ưu tiên đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm hệ thống kê khai thuế điện tử, Cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng eTax Mobile hoạt động ổn định, hạn chế tình trạng quá tải, gián đoạn hoặc sai lệch dữ liệu trong các thời điểm cao điểm thực hiện nghĩa vụ thuế.
- Tiếp tục hoàn thiện các chức năng của eTax Mobile theo hướng hỗ trợ trực tiếp cho hộ kinh doanh trong toàn bộ quy trình kê khai, như hỗ trợ xuất hóa đơn điện tử, ghi nhận doanh thu, tự động tổng hợp dữ liệu và tạo tờ khai thuế gợi ý. Việc nghiên cứu tích hợp các công nghệ AI mới như điều khiển bằng giọng nói, xác thực sinh trắc học và các tiện ích hỗ trợ người dùng cũng cần được mở rộng trên phạm vi toàn quốc nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của các hộ kinh doanh còn hạn chế về kỹ năng công nghệ.
- Đầu tư thích đáng cho công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu người nộp thuế trong toàn bộ hệ thống giao dịch điện tử.
- Hoàn thiện hơn nữa cơ sở dữ liệu về hộ kinh doanh, ví dụ như: trạng thái đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, ngành nghề, mặt hàng kinh doanh,... Xây dựng bộ tiêu chí quản lý rủi ro chuyên biệt, bao gồm các chỉ số về doanh thu, lịch sử tuân thủ và tình hình sử dụng hóa đơn,… Trên cơ sở đó, thiết lập hệ thống cảnh báo sớm đối với các trường hợp có dấu hiệu rủi ro như doanh thu kê khai thấp hơn doanh thu kỳ vọng, biến động doanh thu bất thường, tăng giảm số thuế đột ngột hoặc phát hành nhiều hóa đơn giá trị lớn rồi ngừng kinh doanh. Qua đó, nâng cao hiệu quả quản lý theo phương pháp kê khai.
Tăng cường hoạt động phối hợp liên ngành:
Tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, đặc biệt là lực lượng quản lý thị trường, hải quan và chính quyền địa phương trong kiểm soát nguồn gốc hàng hóa, hóa đơn đầu vào và phòng, chống hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế hợp thức hóa đầu vào đối với một số nhóm hàng hóa có nguồn cung chủ yếu từ bà con nông dân và các chủ thể chưa có điều kiện lập hóa đơn. Tất cả nhằm bảo đảm tính công bằng và hiệu quả của phương pháp kê khai.
Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với mô hình kinh doanh mới:
Đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, cần xây dựng mô hình quản lý thuế chuyên biệt phù hợp với đặc điểm giao dịch có tần suất cao và tỷ lệ đổi, trả hàng lớn. Theo đó, cần thúc đẩy kết nối, trao đổi dữ liệu đơn hàng giữa các sàn thương mại điện tử với cơ quan thuế; đồng thời đối chiếu với dữ liệu thanh toán từ các tổ chức trung gian và ngân hàng, kết hợp dữ liệu hóa đơn điện tử để hình thành hệ thống tự động gợi ý tờ khai thuế cho người nộp thuế xác nhận. Giải pháp này không chỉ giảm sai sót trong kê khai mà còn nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro và hạn chế gian lận thuế.
4. Kết luận
Việc chuyển đổi từ phương pháp thuế khoán sang phương pháp kê khai đối với hộ kinh doanh từ ngày 01/01/2026 là một bước cải cách quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa quản lý thuế, góp phần thực hiện chủ trương chuyển đổi số quốc gia, nâng cao tính minh bạch trong quản lý thuế và từng bước hình thành môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh. Qua phân tích thực trạng giai đoạn đầu triển khai, có thể thấy cơ quan thuế đã có sự chuẩn bị tương đối toàn diện về thể chế, hạ tầng công nghệ và cơ chế hỗ trợ trước khi chính sách chính thức có hiệu lực. Những kết quả bước đầu như việc mở rộng sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, tỷ lệ kê khai và nộp thuế điện tử ở mức cao, cùng việc đẩy mạnh ứng dụng eTax Mobile cho thấy phương pháp kê khai trong thực tiễn đã nhận được sự tham gia tích cực của hộ kinh doanh. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục, cho thấy việc chuyển đổi sang phương pháp kê khai không chỉ là sự thay đổi về phương thức xác định nghĩa vụ thuế mà còn là quá trình cải cách toàn diện về cơ chế quản lý, công nghệ và tổ chức thực thi, đòi hỏi sự hoàn thiện liên tục trong quá trình triển khai. Trong thời gian tới, việc tiếp tục nâng cấp hạ tầng số, nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi, tăng cường phối hợp liên ngành, duy trì cơ chế hỗ trợ thực chất đối với hộ kinh doanh,... sẽ là những yếu tố quyết định để phương pháp kê khai phát huy hiệu quả lâu dài./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 68/NQ-TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
2. Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
3. Bộ Tài chính. (2025). Quyết định số 3389/QĐ-BTC phê duyệt Đề án “Chuyển đổi mô hình và phương pháp quản lý thuế đối với hộ kinh doanh khi xóa bỏ thuế khoán”.
4. Chính phủ. (2025). Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/03/2025 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ.
5. Cục Thuế. (2026). Công điện số 05/CĐ-CT ngày 05/03/2026 về việc triển khai Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
6. Cục Thuế. (2026). Công văn số 2538/CT-NVT ngày 20/4/2026 về việc nâng cao giải pháp hỗ trợ người nộp thuế tiếp cận dịch vụ thuế điện tử và ứng dụng eTax Mobile.
7. Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính. (2025). Tình hình hoạt động của hộ kinh doanh ở nước ta hiện nay. Bộ Tài chính.
8. Thời báo Tài chính Việt Nam. (2025). Trải nghiệm hệ thống AI hỗ trợ khai thuế và hướng dẫn hộ, cá nhân kinh doanh.
9. Báo Đầu tư Chứng khoán. (2025). BIDV - Điểm tựa tài chính công nghệ. Báo Điện Tử Đầu Tư Chứng Khoán.
10. Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp. (2026). Cục Thuế sẽ hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai đúng, xử lý che giấu doanh thu.
11. Báo Chính phủ. (2026). Tạo chuyển biến thực chất trong “cao điểm 60 ngày” xóa bỏ thuế khoán.
Vũ Châu Anh
Sinh viên lớp CQ61/11.06
Khoa Tài chính doanh nghiệp - Học viện Tài chính
email: [email protected], hotline: 086 508 6899
Tag:












