Tác động của thái độ phi hợp tác đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên tại TP.HCM
TCDN - Dữ liệu được thu thập từ 367 sinh viên thông qua bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức và được phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0 với các kỹ thuật Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy mô hình giải thích 61,5% sự biến thiên của hiệu suất làm việc nhóm.
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích tác động của thái độ phi hợp tác đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập từ 367 sinh viên thông qua bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức và được phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0 với các kỹ thuật Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy mô hình giải thích 61,5% sự biến thiên của hiệu suất làm việc nhóm. Trong đó, an toàn tâm lý có tác động tích cực mạnh nhất đến hiệu suất làm việc nhóm (β = 0,854), trong khi thái độ phi hợp tác (β = -0,087) và ỷ lại tập thể (β = -0,151) đều có tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn cho các cơ sở giáo dục đại học trong việc xây dựng môi trường học tập hợp tác, nâng cao hiệu quả làm việc nhóm và phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên.
Từ khóa: thái độ phi hợp tác, ỷ lại xã hội, an toàn tâm lý, hiệu suất làm việc nhóm
Abstract
This study investigates the effects of uncooperative attitude, social loafing, and psychological safety on teamwork performance among university students in Ho Chi Minh City, Vietnam. Data were collected from 367 students using a structured questionnaire with a five-point Likert scale. The data were analyzed using SPSS 26.0, employing Cronbach's Alpha, Exploratory Factor Analysis (EFA), and multiple linear regression. The results indicate that the proposed model explains 61.5% of the variance in teamwork performance. Among the examined factors, psychological safety has the strongest positive effect on teamwork performance (β = 0.854), whereas uncooperative attitude (β = –0.087) and social loafing (β = –0.151) have significant negative effects. The findings provide empirical evidence on the factors influencing teamwork performance in higher education and offer practical implications for universities in fostering collaborative learning environments, enhancing teamwork effectiveness, and developing students' professional competencies.
Keywords: uncooperative attitude; social loafing; psychological safety; teamwork performance.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh giáo dục đại học chuyển sang mô hình đào tạo lấy người học làm trung tâm, làm việc nhóm được xem là phương pháp quan trọng nhằm phát triển các năng lực hợp tác, giao tiếp, giải quyết vấn đề và tư duy phản biện. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động này được triển khai rộng rãi trong nhiều chương trình đào tạo, đặc biệt ở các ngành Kinh tế và Quản trị. Tuy nhiên, hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên trên thực tế vẫn chưa đạt như kỳ vọng do sự xuất hiện của các hành vi và thái độ thiếu hợp tác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các nghiên cứu trong nước cho thấy hoạt động làm việc nhóm của sinh viên còn nhiều hạn chế. Cụ thể, Phan Thị Hồng Hà (2021) chỉ ra tình trạng thiếu tự giác, né tránh và đùn đẩy trách nhiệm vẫn diễn ra khá phổ biến. Những biểu hiện này không chỉ làm giảm chất lượng phối hợp giữa các thành viên mà còn ảnh hưởng đến kết quả học tập và quá trình hình thành năng lực làm việc chuyên nghiệp của sinh viên. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến các biểu hiện của thái độ phi hợp tác trong làm việc nhóm, trong đó ỷ lại tập thể được xem là một biểu hiện điển hình của việc giảm nỗ lực đóng góp của cá nhân khi làm việc chung. Bên cạnh đó, an toàn tâm lý cũng được chứng minh là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy sự chia sẻ, phối hợp và nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá hiệu quả làm việc nhóm hoặc xem xét từng yếu tố riêng lẻ, trong khi còn thiếu các nghiên cứu kiểm định đồng thời tác động của thái độ phi hợp tác, ỷ lại tập thể và an toàn tâm lý đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên.
Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu trên, bài viết phân tích tác động của thái độ phi hợp tác, ỷ lại tập thể và an toàn tâm lý đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc nhóm, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để các cơ sở giáo dục đại học xây dựng môi trường học tập hợp tác và nâng cao năng lực làm việc nhóm cho sinh viên.
2. Cơ sở lý thuyết và phát triển giả thuyết nghiên cứu
2.1. Thái độ phi hợp tác và hiệu suất làm việc nhóm
Thái độ phi hợp tác phản ánh xu hướng cá nhân không sẵn sàng đóng góp đầy đủ công sức, trách nhiệm và sự phối hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm. Biểu hiện của thái độ này bao gồm thiếu chủ động tham gia, né tránh trách nhiệm, không thực hiện đầy đủ cam kết và hạn chế chia sẻ thông tin với các thành viên khác. Trong môi trường học tập đại học, thái độ phi hợp tác không chỉ làm giảm hiệu quả phối hợp mà còn ảnh hưởng đến động lực và sự gắn kết của cả nhóm. Theo lý thuyết giảm nỗ lực cá nhân trong làm việc nhóm, khi trách nhiệm của từng thành viên không được xác định rõ hoặc kết quả được đánh giá theo thành tích tập thể, cá nhân có xu hướng giảm mức độ đóng góp vì cho rằng nỗ lực của mình khó được ghi nhận. Điều này làm giảm hiệu quả phối hợp, kéo dài thời gian hoàn thành công việc và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất của nhóm.
Giả thuyết H1: Thái độ phi hợp tác tác động tiêu cực đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên.
2.2. Ỷ lại tập thể và hiệu suất làm việc nhóm
Ỷ lại tập thể là hiện tượng cá nhân giảm nỗ lực làm việc khi tham gia vào hoạt động nhóm so với khi làm việc độc lập. Đây được xem là một biểu hiện cụ thể của thái độ phi hợp tác, xuất hiện khi cá nhân kỳ vọng các thành viên khác sẽ hoàn thành phần công việc thay mình. Hệ quả là khối lượng công việc phân bổ không đồng đều, làm giảm chất lượng phối hợp và hiệu quả thực hiện mục tiêu chung của nhóm.
Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy hiện tượng ỷ lại tập thể có mối quan hệ nghịch chiều với hiệu suất làm việc nhóm. Khi mức độ ỷ lại gia tăng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và mức độ hài lòng của các thành viên trong nhóm có xu hướng giảm.
Giả thuyết H2: Ỷ lại tập thể tác động tiêu cực đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên.
2.3. An toàn tâm lý và hiệu suất làm việc nhóm
An toàn tâm lý là trạng thái mà các thành viên cảm thấy thoải mái khi bày tỏ ý kiến, đặt câu hỏi hoặc thừa nhận sai sót mà không lo bị phê phán hay đánh giá tiêu cực. Môi trường có mức độ an toàn tâm lý cao sẽ khuyến khích các thành viên chia sẻ thông tin, hợp tác trong giải quyết vấn đề và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.Trong hoạt động học tập theo nhóm, an toàn tâm lý góp phần tăng cường sự tin tưởng giữa các thành viên, thúc đẩy trao đổi ý tưởng và nâng cao chất lượng phối hợp. Do đó, an toàn tâm lý được kỳ vọng có tác động tích cực đến hiệu suất làm việc nhóm.
Giả thuyết H3: An toàn tâm lý tác động tích cực đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên.
2.4. Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, nghiên cứu đề xuất mô hình gồm ba biến độc lập là thái độ phi hợp tác, ỷ lại tập thể và an toàn tâm lý, tác động đến biến phụ thuộc là hiệu suất làm việc nhóm. Mô hình được xây dựng nhằm kiểm định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả học tập theo nhóm.

2.4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định tác động của thái độ phi hợp tác đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi có cấu trúc, sử dụng thang đo Likert 5 mức (1 = Hoàn toàn không đồng ý; 5 = Hoàn toàn đồng ý). Các thang đo về thái độ phi hợp tác, ỷ lại tập thể, an toàn tâm lý và hiệu suất làm việc nhóm được kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu trước để phù hợp với bối cảnh nghiên cứu.
Đối tượng khảo sát là sinh viên đang theo học tại một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Sau khi loại bỏ các bảng trả lời không hợp lệ, nghiên cứu thu được 367 bảng khảo sát hợp lệ, đáp ứng yêu cầu về kích thước mẫu đối với phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính bội.
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0 theo ba bước. Thứ nhất, kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha. Thứ hai, sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) để đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các thang đo. Thứ ba, áp dụng phân tích hồi quy tuyến tính bội theo phương pháp Enter nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mức độ tác động của các biến độc lập đến hiệu suất làm việc nhóm. Đồng thời, các giả định của mô hình hồi quy, bao gồm hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan phần dư và mức độ phù hợp của mô hình, cũng được kiểm định để bảo đảm độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
3. Kết quả nghiên cứu
Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ, phân biệt; ba nhân tố độc lập được giữ lại để đưa vào mô hình hồi quy.

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy hệ số xác định R² = 0,619 và R² hiệu chỉnh = 0,615, cho thấy mô hình giải thích được 61,5% sự biến thiên của hiệu suất làm việc nhóm. Giá trị Durbin–Watson = 1,735 nằm trong khoảng chấp nhận, cho thấy mô hình không có hiện tượng tự tương quan của phần dư.

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị F = 196,234 với Sig. = 0,000 (<0,05), chứng tỏ mô hình hồi quy phù hợp với dữ liệu nghiên cứu và các biến độc lập có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến hiệu suất làm việc nhóm.

Kết quả hồi quy cho thấy an toàn tâm lý có tác động tích cực mạnh nhất đến hiệu suất làm việc nhóm (β = 0,854; Sig. < 0,001). Ngược lại, ỷ lại tập thể (β = -0,151; Sig. < 0,001) và thái độ phi hợp tác (β = -0,087; Sig. = 0,009) đều có tác động tiêu cực đến hiệu suất làm việc nhóm. Đồng thời, các biến đều có hệ số phóng đại phương sai VIF < 2, cho thấy mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

4. Thảo luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả ba giả thuyết đều được chấp nhận, khẳng định rằng thái độ phi hợp tác, ỷ lại tập thể và an toàn tâm lý đều có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, an toàn tâm lý là yếu tố có tác động tích cực mạnh nhất (Beta = 0,854). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Edmondson (1999), cho rằng khi các thành viên cảm thấy an toàn trong việc bày tỏ ý kiến, đặt câu hỏi và chia sẻ quan điểm mà không lo ngại bị chỉ trích hay đánh giá tiêu cực, họ sẽ tích cực hợp tác và học hỏi lẫn nhau, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của nhóm. Đồng thời, phát hiện này cũng thống nhất với nghiên cứu của Ratiu và cộng sự (2025), khi các tác giả chứng minh rằng an toàn tâm lý thúc đẩy quá trình học tập nhóm (team learning) và cải thiện hiệu suất của các nhóm sinh viên trong môi trường giáo dục đại học.
Đối với thái độ phi hợp tác, kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố này có tác động tiêu cực đến hiệu suất làm việc nhóm. Điều này phản ánh thực tế rằng khi sinh viên thiếu chủ động tham gia, né tránh trách nhiệm hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được phân công, sự phối hợp giữa các thành viên sẽ bị gián đoạn, làm giảm chất lượng và hiệu quả chung của nhóm. Kết quả này phù hợp với quan điểm của lý thuyết hành vi hợp tác, theo đó hiệu quả của nhóm phụ thuộc vào mức độ tham gia và cam kết của từng thành viên đối với mục tiêu chung.
Kết quả nghiên cứu cũng xác nhận ỷ lại tập thể có tác động tiêu cực đến hiệu suất làm việc nhóm. Phát hiện này nhất quán với nghiên cứu của Latané, Williams và Harkins (1979) về hiện tượng social loafing, trong đó các tác giả chỉ ra rằng cá nhân có xu hướng giảm nỗ lực khi làm việc theo nhóm nếu cho rằng sự đóng góp của mình khó được nhận diện hoặc kết quả đạt được là thành quả chung của tập thể. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Luo và cộng sự (2021) cũng cho thấy hiện tượng ỷ lại tập thể trong môi trường giáo dục chịu ảnh hưởng bởi việc phân công nhiệm vụ chưa rõ ràng, cơ chế đánh giá chưa phản ánh đầy đủ mức độ đóng góp của từng cá nhân và sự thiếu gắn kết giữa các thành viên, từ đó làm suy giảm hiệu quả làm việc nhóm.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu không chỉ củng cố các bằng chứng lý thuyết về vai trò của an toàn tâm lý và những tác động tiêu cực của hành vi phi hợp tác, mà còn bổ sung bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh giáo dục đại học tại Việt Nam. Điều này cho thấy việc nâng cao hiệu suất làm việc nhóm không chỉ phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của sinh viên mà còn đòi hỏi các cơ sở đào tạo xây dựng môi trường học tập khuyến khích sự tin tưởng, hợp tác và trách nhiệm cá nhân. Đồng thời, giảng viên cần thiết kế cơ chế phân công nhiệm vụ và đánh giá mức độ đóng góp của từng thành viên một cách minh bạch nhằm hạn chế tình trạng ỷ lại tập thể và nâng cao chất lượng học tập theo nhóm.
5. Kết luận
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích tác động của thái độ phi hợp tác, ỷ lại tập thể và an toàn tâm lý đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phân tích dữ liệu từ 367 bảng khảo sát hợp lệ cho thấy cả ba giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận. Trong đó, an toàn tâm lý là yếu tố có tác động tích cực mạnh nhất đến hiệu suất làm việc nhóm, trong khi thái độ phi hợp tác và ỷ lại tập thể đều làm suy giảm hiệu suất làm việc nhóm. Kết quả nghiên cứu phù hợp với các nghiên cứu trước về vai trò của an toàn tâm lý trong nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm và ảnh hưởng tiêu cực của hiện tượng giảm nỗ lực cá nhân đối với kết quả làm việc tập thể.
Từ kết quả nghiên cứu, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng môi trường học tập khuyến khích sự cởi mở, tôn trọng ý kiến và tăng cường an toàn tâm lý cho sinh viên. Đồng thời, giảng viên nên áp dụng cơ chế phân công nhiệm vụ rõ ràng, đánh giá mức độ đóng góp của từng thành viên và kết hợp đánh giá đồng đẳng nhằm hạn chế tình trạng ỷ lại tập thể và nâng cao tinh thần trách nhiệm trong quá trình học tập theo nhóm.
Bên cạnh những đóng góp thực tiễn, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế. Mẫu khảo sát được thu thập theo phương pháp thuận tiện và chỉ giới hạn tại một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nên khả năng khái quát hóa còn hạn chế. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa phương khác, sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất hoặc áp dụng mô hình SEM để kiểm định đồng thời các mối quan hệ giữa các biến và xem xét thêm các yếu tố như phong cách lãnh đạo nhóm, động lực học tập hoặc năng lực số của sinh viên. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc nhóm của sinh viên trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam và là cơ sở tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Edmondson, A. C. (1999). Psychological safety and learning behavior in work teams. Administrative Science Quarterly, 44(2), 350–383.
Edmondson, A. C., & Lei, Z. (2014). Psychological safety: The history, renaissance, and future of an interpersonal construct. Annual Review of Organizational Psychology and Organizational Behavior, 1, 23–43.
Frazier, M. L., Fainshmidt, S., Klinger, R. L., Pezeshkan, A., & Vracheva, V. (2017). Psychological safety: A meta‐analytic review and extension. Personnel Psychology, 70(1), 113–165.
Karau, S. J., & Williams, K. D. (1993). Social loafing: A meta-analytic review and theoretical integration. Journal of Personality and Social Psychology, 65(4), 681–706.
Latané, B., Williams, K., & Harkins, S. (1979). Many hands make light the work: The causes and consequences of social loafing. Journal of Personality and Social Psychology, 37(6), 822–832.
Liden, R. C., Wayne, S. J., Jaworski, R. A., & Bennett, N. (2004). Social loafing: A field investigation. Journal of Management, 30(2), 285–304. https://doi.org/10.1016/j.jm.2003.02.002
Luo, Z., Marnburg, E., Øgaard, T., & Okumus, F. (2021). Exploring antecedents of social loafing in students' group work: A mixed-methods approach. Journal of Hospitality, Leisure, Sport & Tourism Education, 28, 100314.
Mulvey, P. W., & Klein, H. J. (1998). The impact of perceived loafing and collective efficacy on group goal processes and group performance. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 74(1), 62–87.
Phan Thị Hồng Hà. (2021) Thực trạng nguyên nhân làm việc nhóm kém hiệu quả của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Đồng Nai. Tạp Chí Khoa Học - Đại Học Đồng Nai.
Nguyễn Xuân Hưng và cộng sự (2021). Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả làm việc nhóm của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng.
Ratiu, L., Buzea, I. M., Rus, C. L., & Otoiu, C. (2025). Beyond the surface: Unraveling the relationships between conflict, psychological safety, team learning, and performance in student teams. Studies in Higher Education.
Ying, X., Li, H., Jiang, S., Peng, F., & Lin, Z. (2014). Group laziness: The effect of social loafing on group performance. Social Behavior and Personality: An International Journal, 42(3), 465–471.
Trần Thanh Quân - Sinh viên trường Đại học Văn Hiến
Phan Thị Kim Xuyến - Giảng viên trường Đại học Văn Hiến
Huỳnh Trần Khôi Nguyên - Phan Thị Phương Thùy
Sinh viên trường Đại học Văn Hiến
Email: [email protected]
email: [email protected], hotline: 086 508 6899
Tag:








