Tác động của tư duy thiết kế tuần hoàn đến đổi mới mô hình nông nghiệp tuần hoàn tại Đồng bằng Sông Cửu Long
TCDN - Nghiên cứu này kiểm định tác động của tư duy thiết kế tuần hoàn (CDT) đến đổi mới mô hình kinh doanh nông nghiệp tuần hoàn (CBMI) tại Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời xem xét vai trò trung gian của sáng tạo xanh (GC) và vai trò điều tiết của tư duy nghịch lý (PM).
TÓM TẮT
Nghiên cứu này kiểm định tác động của tư duy thiết kế tuần hoàn (CDT) đến đổi mới mô hình kinh doanh nông nghiệp tuần hoàn (CBMI) tại Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời xem xét vai trò trung gian của sáng tạo xanh (GC) và vai trò điều tiết của tư duy nghịch lý (PM). Dữ liệu được thu thập từ 139 chủ thể kinh doanh nông nghiệp tại 13 tỉnh, thành phố trong vùng thông qua khảo sát bảng hỏi có cấu trúc. Tất cả được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) với 5.000 mẫu lặp bootstrap. Tư duy thiết kế tuần hoàn và đổi mới mô hình kinh doanh được mô hình hóa là cấu trúc bậc cao phản xạ. Kết quả xác nhận cả năm giả thuyết: tư duy thiết kế tuần hoàn tác động tích cực đến cả sáng tạo xanh lẫn đổi mới mô hình kinh doanh; sáng tạo xanh truyền dẫn một phần mối quan hệ đó; và tư duy nghịch lý khuếch đại đáng kể hiệu quả của tư duy thiết kế khi được kết hợp. Mô hình giải thích 31,3% phương sai của GC và 33,8% phương sai của CBMI. Nghiên cứu đóng góp khung nhận thức mới cho đổi mới nông nghiệp tuần hoàn và đề xuất hàm ý thực tiễn cho doanh nghiệp, tổ chức hỗ trợ và cơ quan quản lý vùng.
Từ khóa: Đổi mới mô hình kinh doanh, Đồng bằng sông Cửu Long, nông nghiệp tuần hoàn, sáng tạo xanh, tư duy nghịch lý, tư duy thiết kế tuần hoàn.
ABSTRACT
This study examines the impact of circular design thinking (CDT) on circular business model innovation (CBMI) in the agricultural sector in the Mekong Delta. It also investigates the mediating role of green creativity (GC) and the moderating role of paradoxical mindset (PM). Data were collected from 139 agricultural business actors across 13 provinces and cities in the region through a structured questionnaire survey. The data were analyzed using partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) with 5,000 bootstrap resamples. Both circular design thinking and business model innovation were modeled as reflective higher-order constructs. The results confirm all five hypotheses: circular design thinking has a positive effect on both green creativity and circular business model innovation; green creativity partially mediates this relationship; and paradoxical mindset significantly amplifies the effect of circular design thinking when the two are combined. The model explains 31.3% of the variance in green creativity and 33.8% of the variance in circular business model innovation. The study contributes a novel cognitive framework for circular agricultural innovation and offers practical implications for businesses, supporting organizations, and regional policymakers.
Keywords: Business model innovation, Mekong Delta, circular agriculture, green creativity, paradoxical mindset, circular design thinking.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam, đóng góp hơn 50% sản lượng lúa gạo, 65% sản lượng thủy sản và khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu trái cây quốc gia. Song song với vai trò kinh tế, vùng đang chịu áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, suy giảm tầng nước ngầm và mất đa dạng sinh học. Những áp lực này làm bộc lộ giới hạn của mô hình nông nghiệp tuyến tính khai thác - sản xuất - thải bỏ, đồng thời tạo ra nhu cầu cấp thiết chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Nông nghiệp tuần hoàn tổ chức dòng vật chất và năng lượng theo nguyên lý khép kín, kéo dài vòng đời tài nguyên và chuyển hóa phụ phẩm thành đầu vào có giá trị cho các hoạt động liên kết.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc ứng dụng công nghệ tuần hoàn không tự động dẫn đến đổi mới mô hình kinh doanh. Nhiều cơ sở nông nghiệp có thể tái sử dụng phụ phẩm ở cấp kỹ thuật trong khi vẫn duy trì đề xuất giá trị, cấu trúc đối tác và cơ chế doanh thu cũ. Clauss (2017) nhấn mạnh đổi mới mô hình kinh doanh đích thực đòi hỏi sự thay đổi đồng thời trong ba miền: đề xuất giá trị, tạo giá trị và thu giữ giá trị. Để đạt được điều đó, doanh nghiệp nông nghiệp cần những năng lực nhận thức và hành động đặc thù, vượt ra ngoài năng lực kỹ thuật thuần túy.
Tư duy thiết kế tuần hoàn là một cấu trúc bậc cao gồm thấu hiểu các bên liên quan, tư duy hệ thống và vòng đời, đồng sáng tạo và thử nghiệm lặp đã cung cấp logic giải quyết vấn đề phù hợp với yêu cầu thiết kế mô hình tuần hoàn. Sáng tạo xanh được kỳ vọng là cơ chế truyền dẫn quan trọng trong chuỗi tác động này. Đồng thời, tư duy nghịch lý là khả năng chấp nhận và khai thác sức mạnh từ các yêu cầu mâu thuẫn, có thể là điều kiện biên làm thay đổi hiệu quả của tư duy thiết kế trong bối cảnh đặc thù của doanh nghiệp nông nghiệp tuần hoàn.
Để lấp đầy khoảng trống đó, nghiên cứu hướng đến ba nhiệm vụ trung tâm. Thứ nhất, kiểm định sáng tạo xanh như cơ chế truyền dẫn giữa tư duy thiết kế tuần hoàn và đổi mới mô hình kinh doanh nông nghiệp. Thứ hai, kiểm định mối quan hệ đó có truyền dẫn qua trung gian sáng tạo xanh hay không. Thứ ba, kiểm định tư duy nghịch lý như điều kiện biên điều tiết cường độ tác động. Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng cung cấp không chỉ bằng chứng định lượng từ mẫu 139 chủ thể với mô hình PLS-SEM bậc cao, mà còn hàm ý chiến lược cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp tuần hoàn tại Đồng bằng sông Cửu Long.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT
2.1. Nông nghiệp tuần hoàn và đổi mới mô hình kinh doanh
Nông nghiệp tuần hoàn là hệ thống sản xuất trong đó chất thải và phụ phẩm của một hoạt động trở thành đầu vào cho hoạt động khác, tạo nên vòng lặp vật chất khép kín và giảm thiểu đầu vào nguyên sinh. Tại Việt Nam, các mô hình phổ biến bao gồm lúa - cá, lúa - tôm, trồng trọt - chăn nuôi - biogas và chế biến phụ phẩm nông thủy sản. Nguyen et al. (2024) cho thấy mức độ áp dụng tuần hoàn bị chi phối bởi lợi ích cảm nhận, tiếp cận vốn, năng lực công nghệ và hỗ trợ chính sách. Phuong et al. (2024) đặt nông nghiệp tuần hoàn trong yêu cầu chuyển đổi xanh toàn vùng. Chiaraluce et al. (2023) nhấn mạnh liên kết vùng và tận dụng phụ phẩm như chiến lược phát triển khu vực.
Clauss (2017) cho rằng cấu trúc đổi mới mô hình kinh doanh thành ba thành phần: đổi mới đề xuất giá trị, đổi mới tạo giá trị và đổi mới thu giữ giá trị. Santa Maria et al. (2022) mở rộng khung này vào bối cảnh tuần hoàn, trong khi Coffay et al. (2024) xác nhận năng lực động và thiết kế tổ chức có liên hệ trực tiếp với đổi mới mô hình trong ngành tài nguyên sinh học. Björklund (2018) chỉ ra rào cản thị trường và thể chế làm giảm khả năng chuyển đổi mô hình trong nông nghiệp.
2.2. Tư duy thiết kế tuần hoàn và các giả thuyết H1, H2
Tư duy thiết kế tuần hoàn là năng lực áp dụng logic tư duy thiết kế vào các vấn đề vòng đời, tài nguyên và giá trị tuần hoàn. Khi được áp dụng vào bối cảnh tuần hoàn, nó trở thành một năng lực bốn thành phần. Thấu hiểu là nhận diện nhu cầu và vấn đề của các bên liên quan trong hệ sinh thái nông nghiệp. Tư duy hệ thống và vòng đời là phân tích toàn bộ chuỗi vật chất từ đầu vào đến phụ phẩm. Đồng sáng tạo là huy động tri thức từ nhiều tác nhân khác nhau. Thử nghiệm và học hỏi lặp là kiểm chứng giả định ở quy mô nhỏ trước khi mở rộng. Cấu trúc kế thừa từ Geissdoerfer et al. (2016) và Santa Maria et al. (2022), hiệu chỉnh cho bối cảnh Việt Nam.
Tư duy thiết kế tuần hoàn tác động đến đổi mới mô hình kinh doanh theo nhiều con đường đồng thời. Thấu hiểu các bên liên quan giúp phát hiện giá trị bị bỏ lỡ và thiết kế đề xuất giá trị phù hợp hơn; tư duy hệ thống mở ra cơ hội tái cấu hình mạng lưới đối tác và phân chia giá trị dọc theo chuỗi; đồng sáng tạo kết nối các tác nhân và hình thành cơ sở cho những thỏa thuận tạo giá trị mới; thử nghiệm lặp kiểm chứng logic doanh thu và giảm thiểu rủi ro trước khi triển khai rộng. Zhang et al. (2024) liên kết tư duy thiết kế với năng lực đổi mới bền vững; Chen và Chang (2013) xác lập sự đa dạng ý tưởng là đầu ra đặc trưng của quy trình thiết kế định hướng môi trường. Từ đó, đề xuất H1: Tư duy thiết kế tuần hoàn tác động tích cực đến đổi mới mô hình kinh doanh nông nghiệp tuần hoàn; H2: Tư duy thiết kế tuần hoàn tác động tích cực đến sáng tạo xanh.
2.3. Sáng tạo xanh và giả thuyết H3, H4
Sáng tạo xanh là khả năng tạo ra những ý tưởng vừa mới mẻ về mặt nhận thức vừa có giá trị sử dụng trong việc cải thiện kết quả môi trường của tổ chức, mà không đánh đổi hoàn toàn mục tiêu kinh tế (Chen & Chang, 2013). Trong nông nghiệp tuần hoàn, sáng tạo xanh biểu hiện qua ý tưởng về sản phẩm sinh học từ phụ phẩm, dịch vụ chia sẻ tài nguyên, mô hình kinh doanh dịch vụ hệ sinh thái và phương thức hợp tác liên nông hộ. Santa Maria et al. (2022) mô tả tập hợp phương án cấu hình như bước trung gian cốt lõi trong đổi mới mô hình tuần hoàn; Geissdoerfer et al. (2016) nhấn mạnh nhận diện giá trị bị lãng phí là tiền đề tái thiết kế. Vì vậy, H3: Sáng tạo xanh tác động tích cực đến đổi mới mô hình kinh doanh nông nghiệp tuần hoàn; H4: Sáng tạo xanh đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa tư duy thiết kế tuần hoàn và đổi mới mô hình kinh doanh.
2.4. Tư duy nghịch lý và giả thuyết H5
Tư duy nghịch lý là khuynh hướng nhận thức chấp nhận, xem xét đồng thời và khai thác sức mạnh từ các yêu cầu mâu thuẫn (Miron-Spektor et al., 2018). Smith và Lewis (2011) lý giải nghịch lý là các yếu tố đối lập nhưng liên thuộc, tồn tại kéo dài. Hahn et al. (2018) áp dụng khung nghịch lý vào bền vững doanh nghiệp, chỉ ra sự đồng tồn tại của mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội. Doanh nghiệp nông nghiệp tuần hoàn đối mặt với các căng thẳng điển hình như chi phí đầu tư cao versus lợi ích dài hạn, chia sẻ phụ phẩm với đối tác versus bảo vệ lợi thế cạnh tranh. Nhà quản lý có tư duy nghịch lý cao không loại bỏ một chiều mà tìm giải pháp tích hợp, nâng cao chất lượng sáng tạo xanh từ tư duy thiết kế. Vì vậy, H5: Tư duy nghịch lý điều tiết tích cực mối quan hệ giữa tư duy thiết kế tuần hoàn và sáng tạo xanh.

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế định lượng cắt ngang để kiểm định mô hình khái niệm. Tổng thể mục tiêu gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cơ sở nông nghiệp có hoạt động tái sử dụng phụ phẩm, tái chế hoặc vận hành vòng lặp tài nguyên tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bảng hỏi có cấu trúc với thang Likert 5 mức được triển khai trực tiếp và qua nền tảng trực tuyến. Người trả lời là nhà sáng lập, đồng sáng lập hoặc quản lý chủ chốt có hiểu biết về hoạt động tổng thể. Bộ dữ liệu cuối cùng gồm 139 quan sát hợp lệ thuộc 13 tỉnh, thành phố. Kết quả hậu kiểm quy mô mẫu trong SmartPLS xác nhận 139 quan sát vượt toàn bộ ngưỡng công suất 80% cho các quan hệ giả thuyết chính.

3.2. Thang đo
Toàn bộ thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu quốc tế có uy tín và hiệu chỉnh ngữ nghĩa qua quy trình dịch thuận dịch ngược (Brislin, 1970) cho phù hợp với bối cảnh nông nghiệp tuần hoàn Việt Nam. Thang đo tư duy thiết kế tuần hoàn gồm 12 biến quan sát phân bổ đều cho bốn thành phần, kế thừa từ Geissdoerfer et al. (2016) và Santa Maria et al. (2022). Thang đo sáng tạo xanh gồm 6 biến quan sát kế thừa từ Chen và Chang (2013). Thang đo tư duy nghịch lý gồm 9 biến quan sát kế thừa từ Miron-Spektor et al. (2018). Thang đo đổi mới mô hình kinh doanh nông nghiệp tuần hoàn gồm 12 biến quan sát kế thừa từ Clauss (2017) và Santa Maria et al. (2022), phân bổ cho ba thành phần. Tất cả sử dụng thang Likert 5 mức. Tư duy thiết kế tuần hoàn và đổi mới mô hình kinh doanh được mô hình hóa là cấu trúc bậc cao phản xạ theo cách tiếp cận chỉ báo lặp.
3.3. Phương pháp phân tích PLS-SEM
Phân tích được thực hiện bằng SmartPLS 4 theo phương pháp PLS-SEM với thuật toán sơ đồ trọng số đường dẫn, 5.000 mẫu lặp bootstrap và kiểm định hai phía ở mức ý nghĩa 5%. PLS-SEM được lựa chọn vì phù hợp với mẫu nhỏ đến trung bình, không yêu cầu giả định phân phối chuẩn đa biến và có thể ước lượng cấu trúc bậc cao. Mô hình đo lường được đánh giá qua tải ngoài, Cronbach alpha (α), độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích trung bình, tỷ số HTMT và tiêu chí Fornell-Larcker. Mô hình cấu trúc được đánh giá qua hệ số phóng đại (VIF), hệ số đường dẫn, giá trị t, khoảng tin cậy bootstrap, R², kích thước hiệu ứng f² và SRMR.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thống kê mô tả
Giá trị trung bình của các khái niệm dao động từ 2,825 đến 3,156. Trong bốn thành phần CDT, thử nghiệm và học hỏi lặp có mức trung bình thấp nhất, gợi ý khoảng cách giữa nhận thức tuần hoàn và khả năng thực hiện thử nghiệm có kiểm soát tại các đơn vị quy mô nhỏ. Trong CBMI, thu giữ giá trị có mức thấp nhất, trong khi tạo giá trị đạt cao nhất. Phân phối các điểm tổng hợp không thể hiện lệch nghiêm trọng, phù hợp PLS-SEM.
4.2. Đánh giá mô hình đo lường
Toàn bộ cấu trúc đạt yêu cầu về độ tin cậy tổng hợp (rho_C từ 0,824 đến 0,939) và giá trị hội tụ (AVE từ 0,542 đến 0,716). Ba biến có tải thấp hơn ngưỡng 0,708 được giữ lại vì không làm suy giảm rho_C và AVE và có ý nghĩa nội dung rõ ràng. Bốn thành phần CDT có hệ số tải lên cấu trúc bậc cao từ 0,905 đến 0,939; ba thành phần CBMI từ 0,929 đến 0,939. Tất cả có ý nghĩa có ý nghĩa nội dung rõ ràng trong bối cảnh nghiên cứu với p < 0,001.

Giá trị phân biệt được xác nhận theo cả hai tiêu chí. HTMT giữa bốn khái niệm dao động từ 0,123 đến 0,571, thấp hơn ngưỡng 0,85. Theo Fornell-Larcker, căn bậc hai AVE trên đường chéo đều cao hơn tương quan giữa các cặp, xác nhận giá trị phân biệt đầy đủ. Cho thấy bốn khái niệm được xác định độc lập, không bị nhầm lẫn hay chồng lấp lên nhau trong đo lường.

4.3. Kết quả kiểm định giả thuyết
Mô hình cấu trúc không có vấn đề về đa cộng tuyến và đạt mức độ phù hợp tổng thể chấp nhận được. Toàn bộ năm giả thuyết đều được chấp nhận ở mức ý nghĩa thống kê 5%.

5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ
5.1. Tác động trực tiếp của tư duy thiết kế tuần hoàn (H1, H2)
Điều đáng chú ý đầu tiên từ kết quả là tư duy thiết kế tuần hoàn tác động mạnh hơn nhiều đến sáng tạo xanh so với đổi mới mô hình kinh doanh. Giả thuyết H1 vẫn được chấp nhận. Kết quả phù hợp với Santa Maria et al. (2022) và Coffay et al. (2024) khi năng lực thiết kế và tổ chức liên hệ trực tiếp với đổi mới mô hình kinh doanh. Kích thước hiệu ứng nhỏ hợp lý vì tư duy thiết kế chỉ là một trong nhiều điều kiện là nguồn vốn, công nghệ và hỗ trợ thể chế vẫn đóng vai trò quyết định.
Giả thuyết H2 có hệ số lớn nhất trong mô hình, nhất quán với Zhang et al. (2024); Chen và Chang (2013) rằng tư duy thiết kế trước hết mở rộng năng lực tạo ý tưởng xanh trước khi tác động đến cấu trúc mô hình. Mức trung bình thấp của thử nghiệm và học hỏi lặp (2,825) gợi ý nguồn lực hạn chế cản trở thử nghiệm có kiểm soát tại ĐBSCL, nhất quán với Ninh et al. (2023) và Björklund (2018).
5.2. Sáng tạo xanh và vai trò trung gian (H3, H4)
Vai trò trung gian của sáng tạo xanh là một trong những phát hiện có giá trị lý thuyết cao nhất của nghiên cứu. Giả thuyết H3 mở rộng Chen và Chang (2013) từ phát triển sản phẩm xanh sang cấp mô hình kinh doanh. Khoảng cách giữa tạo giá trị (3,156) và thu giữ giá trị (2,919) gợi ý doanh nghiệp dễ tưởng tượng quy trình hơn là thiết kế cơ chế doanh thu tuần hoàn, đây là một điểm cần ưu tiên hỗ trợ. Giả thuyết H4 cho thấy sáng tạo xanh truyền dẫn 39,4% tổng tác động CDT lên CBMI ở mức PM trung bình. Trung gian một phần xác nhận CDT còn tác động trực tiếp qua cải thiện phối hợp và lựa chọn đối tác không nhất thiết phải qua tạo ý tưởng xanh.
5.3. Vai trò điều tiết của tư duy nghịch lý (H5)
Kết quả về tư duy nghịch lý làm rõ một sự phân biệt quan trọng về mặt lý thuyết: tư duy nghịch lý không tự sinh ra sáng tạo xanh, nhưng nó khuếch đại đáng kể hiệu quả của tư duy thiết kế tuần hoàn trong việc tạo ra sáng tạo xanh. Giả thuyết H5 được chấp nhận. Tác động CDT đến GC tăng từ 0,234 ở mức PM thấp lên 0,723 ở mức PM cao, có biên độ gần gấp ba lần. Phát hiện nhất quán với Miron-Spektor et al. (2018) và Hahn et al. (2018) rằng tư duy nghịch lý giúp khai thác căng thẳng nhận thức như nguồn năng lượng.
Quan trọng hơn, tác động trực tiếp PM lên GC không có ý nghĩa, làm rõ tư duy nghịch lý là điều kiện khuếch đại, không phải nguồn ý tưởng độc lập. Nhà quản lý cần cả hai là quy trình thiết kế để tạo ý tưởng lẫn tư duy nghịch lý để tích hợp các mục tiêu mâu thuẫn thành giải pháp thống nhất.
6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
6.1. Đóng góp lý thuyết
Nghiên cứu này mang lại ba đóng góp lý thuyết chính cho tài liệu về đổi mới mô hình kinh doanh tuần hoàn. Thứ nhất, nghiên cứu xây dựng và kiểm định tư duy thiết kế tuần hoàn như một năng lực tổ chức bậc cao gồm bốn thành phần liên thuộc. Điều này nâng tầm khái niệm từ các công cụ rời rạc thành một năng lực cần được phát triển và đo lường hệ thống. Thứ hai, sáng tạo xanh được xác định là biến trung gian một phần giữa tư duy thiết kế và đổi mới mô hình kinh doanh. Kết quả làm rõ rằng năng lực nhận thức không thay đổi trực tiếp cấu trúc mô hình, mà cần bước chuyển giao ở cấp độ ý tưởng và giải pháp. Thứ ba, nghiên cứu bổ sung tư duy nghịch lý vào khung lý thuyết với vai trò điều tiết. Phát hiện này chứng minh hiệu quả của năng lực nhận thức phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện tư duy của người vận hành.
6.2. Hàm ý thực tiễn
Đối với doanh nghiệp và cơ sở nông nghiệp: nên tổ chức quy trình tư duy thiết kế tuần hoàn theo bốn bước liên kết (thấu hiểu, lập bản đồ vòng đời, đồng sáng tạo tới thử nghiệm nhỏ có đo lường). Dành nguồn lực riêng cho thiết kế cơ chế thu giữ giá trị; và phát triển tư duy nghịch lý bằng cách thực hành tích hợp đồng thời tiêu chí kinh tế và môi trường thay vì lựa chọn đơn giản hóa.
Đối với trường đại học và tổ chức hỗ trợ: chương trình ươm tạo nên chuyển từ pitching ý tưởng chung sang thực hành thiết kế mô hình kinh doanh tuần hoàn với bài tập chứa các căng thẳng thực tế. Đối với cơ quan quản lý: chính sách cần kết hợp đồng thời hỗ trợ thiết bị xử lý tuần hoàn, đào tạo tư duy thiết kế và kết nối thị trường cho sản phẩm tuần hoàn, không chỉ tập trung vào hỗ trợ thiết bị đơn thuần.
6.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế do sử dụng mẫu phi xác suất và thiết kế cắt ngang, làm giảm tính khái quát hóa và chưa thể xác định quan hệ nhân quả theo thời gian. Bên cạnh đó, mô hình chưa kiểm soát các biến nền quan trọng như quy mô, lĩnh vực sản xuất và địa bàn tại Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời một số chỉ tiêu kỹ thuật chỉ mới đạt mức sát ngưỡng.
Các nghiên cứu tương lai nên ưu tiên thiết kế theo thời gian nhằm quan sát tiến trình từ tư duy thiết kế đến triển khai mô hình kinh doanh tuần hoàn, kết hợp phân tích đa nhóm để làm rõ điều kiện biên. Ngoài ra, việc tích hợp phương pháp định tính sẽ giúp giải mã cách doanh nhân xử lý các căng thẳng nghịch lý thực tiễn, trong khi mở rộng khảo sát sang các vùng nông nghiệp khác sẽ hỗ trợ kiểm định tính tổng quát của mô hình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Björklund, J. C. (2018). Barriers to sustainable business model innovation in Swedish agriculture. Journal of Entrepreneurship, Management and Innovation, 14(1), 65–90. https://doi.org/10.7341/20181414
Brislin, R. W. (1970). Back-translation for cross-cultural research. Journal of Cross-Cultural Psychology, 1(3), 185–216. https://doi.org/10.1177/135910457000100301
Chen, Y. S., & Chang, C. H. (2013). The determinants of green product development performance: Green dynamic capabilities, green transformational leadership, and green creativity. Journal of Business Ethics, 116(1), 107–119. https://doi.org/10.1007/s10551-012-1452-x
Chiaraluce, G., Bentivoglio, D., & Finco, A. (2023). The circular economy model in the agri-food sector: A new strategy for the regional development. AIMS Agriculture and Food, 8(3), 851–872. https://doi.org/10.3934/agrfood.2023045
Clauss, T. (2017). Measuring business model innovation: Conceptualization, scale development, and proof of performance. R&D Management, 47(3), 385–403. https://doi.org/10.1111/radm.12186
Coffay, M., Tveterås, R., Bocken, N., & Bogers, M. L. (2024). Sustainable business model innovation, dynamic capabilities, and organizational design: Insights from Norwegian aquaculture. Business Strategy and the Environment, 33(6), 5386–5404. https://doi.org/10.1002/bse.3762
Geissdoerfer, M., Bocken, N. M. P., & Hultink, E. J. (2016). Design thinking to enhance the sustainable business modelling process: A workshop based on a value mapping process. Journal of Cleaner Production, 135, 1218–1232. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2016.07.020
Hahn, T., Figge, F., Pinkse, J., & Preuss, L. (2018). A paradox perspective on corporate sustainability: Descriptive, instrumental, and normative aspects. Journal of Business Ethics, 148(2), 235–248. https://doi.org/10.1007/s10551-017-3587-2t
Miron-Spektor, E., Ingram, A., Keller, J., Smith, W. K., & Lewis, M. (2018). Microfoundations of organizational paradox: The problem is how we think about the problem. Academy of Management Journal, 61(1), 26–45. https://doi.org/10.5465/amj.2016.0594
Nguyen, T. K., Khue, M., Tran, Q. P., Nguyen, T. Q. A., Le, K. C., Nguyen, C. D., Chu, V. C., Vu, T. T., Dang, H. A., & Nguyen, A. V. (2024). Examining the factors influencing the level of circular economy adoption in agriculture: Insights from Vietnam. Research on World Agricultural Economy, 5(1), 48–58. https://doi.org/10.36956/rwae.v5i1.992
Ninh, N. T. H., Le, N. P., & Chung, D. K. (2023). How to enhance circular agriculture models at micro-level in Vietnam?: A review. Current World Environment, 18(2). http://dx.doi.org/10.12944/CWE.18.2.05
Phuong, T. T., Vien, T. D., Son, C. T., Thuy, D. T., & Greiving, S. (2024). Impact of climate change on agricultural production and food security: A case study in the Mekong River Delta of Vietnam. Sustainability, 16(17), Article 7776. https://doi.org/10.3390/su16177776
Santa-Maria, T., Vermeulen, W. J. V., & Baumgartner, R. J. (2022). The circular sprint: Circular business model innovation through design thinking. Journal of Cleaner Production, 362, Article 132323. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2022.132323
Smith, W. K., & Lewis, M. W. (2011). Toward a theory of paradox: A dynamic equilibrium model of organizing. Academy of Management Review, 36(2), 381–403. https://doi.org/10.5465/amr.2011.59330958
Zhang, X., Liu, C., Cang, X., Lyu, Y., Zhang, M., Chen, Z., Yu, Y., Sun, Z., & Xue, Y. (2024). Research on the effect of design thinking on enterprise sustainable innovation ability and team performance. Sustainability, 16(11), Article 4428. https://doi.org/10.3390/su16114428
Nguyễn Thái Đăng Khôi, Nguyễn Quang Thuận,
Nguyễn Huy, Lê Trương Chí Bảo
Trường Đại học Văn Hiến
email: [email protected], hotline: 086 508 6899
Tag:








