Ưu tiên ngân sách Trung ương phân bổ mức cao nhất cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

14/12/2025, 15:33
chia sẻ bài viết

TCDN - Nghị quyết về các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035 xác định ưu tiên ngân sách Trung ương cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đồng thời coi phát triển hợp tác xã, kinh tế hợp tác là giải pháp quan trọng để nâng cao sinh kế và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi

Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 vừa được Quốc hội thông qua, trong đó xác định ưu tiên trọng tâm cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đối với khu vực này, mục tiêu chung của Chương trình là phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và các nhóm dân cư, nhất là giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác.

Về mục tiêu cụ thể, đến năm 2030 phấn đấu thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt khoảng một nửa mức bình quân chung của cả nước; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm xuống dưới 10%; cơ bản không còn các xã, thôn đặc biệt khó khăn.

(Ảnh minh họa)

(Ảnh minh họa)

Đến năm 2035, phấn đấu thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tiếp tục đạt khoảng một nửa mức bình quân chung của cả nước; giảm ít nhất 50% số xã, thôn khó khăn trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; có ít nhất 5 tỉnh, thành phố trong vùng không còn xã, thôn khó khăn.

Chương trình ưu tiên nguồn lực cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng an toàn khu, vùng biên giới và hải đảo; đối tượng thụ hưởng trọng tâm là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo.

Tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí cho Chương trình giai đoạn 2026 – 2030 dự kiến khoảng 423.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 100.000 tỷ đồng (70.000 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển, 30.000 tỷ đồng kinh phí thường xuyên); ngân sách địa phương khoảng 300.000 tỷ đồng và vốn tín dụng chính sách khoảng 23.000 tỷ đồng.

Nguyên tắc phân bổ vốn được xác định theo hướng tập trung, tránh dàn trải, trong đó ưu tiên ngân sách trung ương ở mức cao nhất cho các địa bàn đặc biệt khó khăn nhằm tạo chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Theo Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng, so với dự thảo trước, Nghị quyết đã được chỉnh lý theo hướng làm rõ mục tiêu phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tập trung nguồn lực cho các địa bàn khó khăn nhất và tăng cường phân quyền cho địa phương gắn với trách nhiệm sử dụng hiệu quả nguồn vốn.

Thúc đẩy phát triển hợp tác xã, kinh tế hợp tác 

Song song đầu tư hạ tầng và hỗ trợ an sinh xã hội, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 cũng đặt trọng tâm thúc đẩy phát triển hợp tác xã, kinh tế hợp tác, coi đây là giải pháp quan trọng nhằm tổ chức lại sản xuất, nâng cao thu nhập và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Theo đó, nguồn lực của Chương trình sẽ ưu tiên hỗ trợ hình thành mới, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, tổ hợp tác do đồng bào dân tộc thiểu số tham gia, gắn với các ngành hàng nông - lâm nghiệp chủ lực, sản phẩm đặc sản, dược liệu, du lịch cộng đồng và kinh tế bản địa. Việc phát triển hợp tác xã được kỳ vọng góp phần khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết - một trong những điểm nghẽn lớn của kinh tế vùng miền núi hiện nay.

Cùng với đó, Chương trình chú trọng hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận tín dụng ưu đãi, ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực và kết nối thị trường tiêu thụ. Các mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được ưu tiên phát triển và nhân rộng, qua đó góp phần giảm nghèo đa chiều, bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Vai trò của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã các địa phương được nhấn mạnh trong việc tư vấn, hỗ trợ thành lập hợp tác xã, nâng cao năng lực quản trị, xúc tiến thương mại và bảo vệ quyền lợi chính đáng của thành viên hợp tác xã tại các địa bàn khó khăn. Đây được xem là lực lượng nòng cốt đồng hành cùng chính quyền địa phương trong triển khai các chính sách phát triển kinh tế hợp tác, bảo đảm nguồn lực đầu tư của Nhà nước được sử dụng hiệu quả, đúng mục tiêu.

Việc gắn ưu tiên ngân sách trung ương với phát triển hợp tác xã, kinh tế hợp tác không chỉ giúp sử dụng nguồn vốn tập trung, tránh dàn trải, mà còn tạo nền tảng để vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác.

Tránh áp lực nguồn vốn cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ băn khoăn về cơ cấu nguồn vốn của Chương trình và khả năng đáp ứng của các địa phương, nhất là các tỉnh còn nhiều khó khăn.

Đại biểu Hà Sỹ Huân (Thái Nguyên) phân tích, trong tổng nguồn vốn nhà nước hỗ trợ khoảng 500.000 tỷ đồng, vốn ngân sách trung ương chỉ chiếm khoảng 20%, trong khi ngân sách địa phương chiếm tới 80%. Theo đại biểu, cơ cấu này khiến gánh nặng tài chính dồn nhiều lên địa phương, đặc biệt là các tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao.

Cùng quan điểm, đại biểu Hồ Thị Minh (Quảng Trị) cho rằng, với những địa phương miền Trung, Tây Nguyên đang phụ thuộc lớn vào hỗ trợ từ Trung ương, việc yêu cầu tỷ lệ đối ứng cao sẽ rất khó khả thi, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản. Đại biểu đề nghị cần xem xét điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn và có cơ chế miễn, giảm đối ứng đối với các xã nghèo, vùng thường xuyên chịu tác động của thiên tai.

Một số đại biểu cũng chỉ ra các nguyên tắc phân bổ vốn hiện nay còn mang tính khái quát, thiếu tiêu chí định lượng cụ thể, dễ dẫn đến tình trạng phân bổ dàn trải, cào bằng. Do đó, cần thiết kế tiêu chí phân bổ vốn dựa trên mức độ khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và nhu cầu thực tế của từng địa bàn.

Đại biểu Hà Sỹ Đồng đề xuất quy định rõ nguyên tắc phân bổ theo hướng ít nhất 70% vốn ngân sách trung ương ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó tối thiểu 40% dành cho các địa bàn đặc biệt khó khăn, nhằm bảo đảm đầu tư đúng trọng tâm, đúng vùng lõi nghèo.

Hải Nam
Bạn đang đọc bài viết Ưu tiên ngân sách Trung ương phân bổ mức cao nhất cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại chuyên mục Tài chính của Tạp chí Tài chính doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác:

email: [email protected], hotline: 086 508 6899

Tin liên quan

Sản xuất theo chuỗi giá trị tại Chiềng Đen (Sơn La): Tạo sinh kế thoát nghèo vùng dân tộc thiểu số
Từ một trong những xã với 48% hộ nghèo, thu nhập bình quân dưới 20 triệu đồng/người/năm, đến cuối 2025, xã Chiềng Đen (Sơn La) đã đổi thay ngoạn mục với thu nhập đạt gần 50 triệu đồng/năm, hộ nghèo còn 1,1%. Đằng sau sự bứt phá ấy là câu chuyện sản xuất cà phê theo chuỗi của HTX Nông nghiệp Chiềng Xét.
Sức sống mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Nghệ An
Sự linh hoạt trong sử dụng nguồn vốn Chương trình xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại các xã vùng cao thuộc tỉnh Nghệ An đã tạo ra những bước đột phá trong xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, mở ra cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân.