Góp ý Dự thảo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi: Chính thức hóa hộ kinh doanh, tư duy mới về quản lý đầu tư

27/03/2019, 09:14

TCDN -
Chỉ sau gần 4 năm thực hiện, một số quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đã không còn phù hợp với thực tế, cần được tiếp tục sửa đổi, bổ sung, thậm chí là “đập đi xây lại” nếu có thể.


Có đăng ký kinh doanh phải được xem là doanh nghiệp

Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết, Luật Doanh nghiệp sửa đổi sẽ tập trung vào việc đơn giản hoá thủ tục gia nhập thị trường, giảm chi phí tái cấu trúc doanh nghiệp, nâng cao quản trị doanh nghiệp và bỏ một số điểm bất cập liên quan đến quyền của cổ đông.

Một trong các điểm đáng chú ý của luật sửa đổi lần này sẽ điều chỉnh quy định cổ đông chỉ cần sở hữu 1% vốn doanh nghiệp có quyền ứng cử và đề cử vào Hội đồng Quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát cùng một số quyền khác như yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ, yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra các vấn đề liên quan đến điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, dự thảo Luật đã bỏ quy định cần nắm giữ 6 tháng và giảm tỷ lệ sở hữu cần thiết từ 10% vốn xuống còn 1% đối với các cổ đông.

Quy định cần nắm giữ 6 tháng để đề cử người vào HĐQT là bất hợp lý. Đơn cử như trường hợp của Sabeco, sau khi Tập đoàn Thaibev mua chi phối trên 51% vốn, các nhân sự từ cổ đông Thái phải đợi sau 6 tháng mới có thể đề cử và ứng cử tham gia vào HĐQT và Ban kiểm soát, điều này cho thấy sự bất cập.

Mặt khác, việc giảm tỷ lệ sở hữu bắt buộc từ 10% xuống 1% là nhằm đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn, đồng thời cũng loại trừ các hành vi gây cản trở doanh nghiệp. Việc giảm tỷ lệ nắm giữ bắt buộc là cần thiết nhưng không thể giảm về 0% do có thể xuất hiện một số thành phần cổ đông với mục đích xấu, mặc dù không mua cổ phần nhưng vẫn phá rối, đòi đình chỉ các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp không vì lí do gì. Điều này cần cân bằng giữa việc bảo vệ cổ đông nhỏ lẻ và quyền của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, dự thảo luật cũng bỏ quy định thời gian nắm giữ 6 tháng đối với những cổ đông sở hữu tối thiểu 1% vốn của doanh nghiệp. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông này có thể tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong các trường hợp như: vi phạm nghĩa vụ người quản lý công ty; thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của Hội đồng quản trị; sử dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác…

Theo ông Trương Thanh Đức, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Công ty Luật Basico, nội dung sửa đổi qua hơn 3 năm thi hành luật là khá nhiều, song việc sửa đổi không phải là đổi mới, chủ yếu là sửa sai. Ví dụ, Điểm b, Khoản 1, Điều 1 của Dự thảo Luật Doanh nghiệp bổ sung giải thích “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” là lấy lại nguyên văn quy định tại khoản 2, Điều 4 về “Giải thích từ ngữ” tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã bị bỏ đi trong luật năm 2014. Hoặc khái niệm DNNN là doanh nghiệp100% vốn nhà nước, sang trên 50% vốn nhà nước theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, sau đó đổi về 100% theo Luật Doanh nghiệp 2014, và dự thảo lần này quy định trên 50% (khoản 2, Điều 2 Dự thảo Luật).

Việc không thay đổi tỉ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu là 10% (khoản 2 Điều 114 Luật Doanh nghiệp) là không hợp lí, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của cổ đông, nhất là các công ty đại chúng có qui mô lớn. Do vậy, cần sửa tỉ lệ sở hữu từ 10% xuống 5% để tăng cường đảm bảo quyền của cổ đông, đồng thời cũng tương thích với qui định cổ đông lớn sở hữu từ 5% trở lên theo qui định tại Luật Chứng khoán và Luật Các tổ chức tín dụng.

Về vấn đề hộ kinh doanh, hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh là một tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp, thường xuyên, bản chất chính là doanh nghiệp và phải được xem là doanh nghiệp tư nhân. Việc duy trì hộ kinh doanh bên cạnh các loại hình doanh nghiệp là một sự bất bình đẳng, một sự mập mờ về pháp lý. Do đó, cần loại bỏ hộ kinh doanh để chuyển thành doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty. Đồng thời, quy định một giai đoạn chuyển tiếp và chế độ quản lý, tài chính, kế toán đơn giản, phù hợp với thực tế.

Luật sư Lê Văn Hà, Công ty Luật Pathlaw cho rằng, quan niệm doanh nghiệp không bao gồm hộ gia đình, cá nhân có đăng ký kinh doanh là sai, bởi bất kỳ ai lấy kinh doanh làm nghề nghiệp chính cũng là doanh nghiệp.
Ngoài ra, xét từ góc độ chính sách, hiện nay không có bất kỳ văn bản pháp luật nào quy định về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình có đăng ký kinh doanh. Trong khi đó, đây là đối tượng đông đảo nhất về số lượng (gần 5 triệu hộ), là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất trong nền kinh tế (gần 10 triệu việc làm).

Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp hộ gia đình, doanh nghiệp một chủ là thực tế khách quan. Ngay cả các nước phát triển, trong đó có Mỹ cũng vẫn duy trì loại hình doanh nghiệp “sở hữu duy nhất” với nhiều ưu đãi và hỗ trợ. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp Việt Nam gần như gạt ra ngoài việc công nhận và bảo đảm địa vị pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình có đăng ký kinh doanh. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng gạt đối tượng này ra khỏi các chính sách hỗ trợ.

Trong khi đó, hộ gia đình đăng ký kinh doanh là đối tượng dễ chịu tác động nhất từ các cam kết về mở cửa thị trường theo WTO, FTA và CPTPP, đặc biệt là các hộ kinh doanh trong lĩnh vực phân phối - bán lẻ, dịch vụ...
Từ những phân tích trên, cần mở rộng đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp bao gồm cả hộ gia đình và cá nhân có đăng ký kinh doanh. Theo đó, cần bổ sung một chương trong luật quy định về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của hộ đăng ký kinh doanh, hoặc phải có một văn bản luật riêng quy định cho đối tượng này.

Đồng thời, cần bỏ quy định có tính chất cưỡng ép và thiếu thực tiễn khi bắt buộc chuyển đổi hộ gia đình đăng ký kinh doanh thành doanh nghiệp tại Điều 212 bộ luật hiện hành.

Đồng quan điểm, ông Lê Xuân Hiền, Hội các nhà Doanh nghiệp trẻ tỉnh Hải Dương nhận định, dù ở quy mô, hình thức nào, nguyên tắc vẫn là đã kinh doanh phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp và kinh doanh nhỏ hay lớn cũng là doanh nghiệp. Thế nhưng, hộ gia đình kinh doanh không nằm trong đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp không coi họ là doanh nghiệp là sai, là thiếu.

Nguyên nhân khiến hộ kinh doanh không muốn chuyển thành doanh nghiệp là do thủ tục thành lập khó khăn và quan trọng là hành xử sau đó của cơ quan thuế, công an, hành chính… Ví dụ, cùng là phương tiện trị giá như nhau nhưng một người đi xe máy SH trị giá 150 triệu đồng và một người đi ô tô cũng trị giá 150 triệu đồng (xe cũ, loại nhỏ chẳng hạn) thì người đi ô tô phải chịu nhiều loại phí, điều kiện để được lưu hành. Ở đây, có thể hình dung doanh nghiệp chính là người đi ô tô, còn hộ kinh doanh chính là người đi xe máy. Nói vậy để thấy Luật Doanh nghiệp 2014 sau 3 năm thực hiện phải sửa đổi để tạo điều kiện, hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động, phát triển, dù ở quy mô nào.

Thực tế, nhiều hộ gia đình kinh doanh sử dụng hàng trăm lao động, quy mô lớn hơn doanh nghiệp. Nếu xóa bỏ hộ kinh doanh đi và chính thức coi họ là doanh nghiệp, ngoài việc tăng số lượng doanh nghiệp ít nhất thêm 2 triệu, còn khuyến khích họ đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước.

Xây mới Luật Đầu tư

Luật sư Nguyễn Tiến Lập, thành viên Văn phòng luật sư NH Quang và Cộng sự cho rằng, đã đến lúc chín muồi cho một tư duy khác về quản lý đầu tư. Đầu tư là hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp và các dự án chỉ là phương thức thực hiện. Bên cạnh đó, nếu một doanh nghiệp được thành lập chỉ để thực hiện một dự án đầu tư duy nhất thì về bản chất, đó chỉ là một giải pháp pháp lý được Luật Doanh nghiệp cho phép.

Khi quyết định đầu tư, doanh nghiệp quan tâm nhất đến tiền vốn và tiếp thị sản phẩm đầu ra. Cả hai khâu này đều là vấn đề của thị trường không thuộc phạm vi quản lý nhà nước. Tiếp đến là việc tiếp cận đất đai, xây dựng công trình, tuyển dụng lao động, tuân thủ tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn an toàn sản phẩm... đã có các luật chuyên ngành điều chỉnh. Như vậy, một luật chuyên biệt về đầu tư nói chung là không cần thiết, chưa nói tới cả một bộ máy quản lý riêng đi kèm với các quy trình và thủ tục hành chính phức tạp để quản lý. Với tinh thần nói trên, cần xây dựng và ban hành một hoặc một số luật mới mà không phải là sửa Luật Đầu tư hiện hành.

Ông Trương Thanh Đức nhấn mạnh, cốt lõi của Luật Đầu tư là danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh, gắn với kinh doanh. Trong khi đó, ngành nghề kinh doanh vốn được quy định trong các Luật Doanh nghiệp trước đây. Nếu việc sửa đổi còn luẩn quẩn, không rõ mục tiêu, sẽ dẫn đến nguy cơ phải sửa đổi nhiều nữa. Theo đó, nên xem xét bỏ Luật Đầu tư, đồng thời chuyển Danh mục ngành, nghề cấm và đầu tư kinh doanh có điều kiện quay lại Luật Doanh nghiệp. Bởi hiện mọi hoạt động đầu tư của tư nhân đều phải thực hiện các luật liên quan như Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy, chữa cháy... Còn đầu tư của Nhà nước phải theo Luật Đầu tư công. Ngoài ra, có thể thêm 1 chương về đầu tư nước ngoài trong Luật Doanh nghiệp.

Một vấn đề khác, không ít ý kiến cho rằng, dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi chưa làm rõ khái niệm thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Số vốn bao nhiêu thì được gọi là doanh nghiệp FDI đã gây nên sự chồng chéo cho các nhà đầu tư và cả cơ quan cấp phép khi thực hiện thủ tục cấp phép đầu tư. Bà Nguyễn Kim Dung, Giám đốc Pháp chế Apollo Việt Nam và Đại học Anh quốc Việt Nam cho rằng, cần sửa đổi Điều 23 Luật Đầu tư về thực hiện hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điều 23 chưa quy định rõ số vốn bao nhiêu thì được gọi là đầu tư nước ngoài, chỉ đề cập về thủ tục đầu tư khi có số vốn điều lệ từ 51% trở lên thì thực hiện theo thủ tục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, còn nếu dưới thì thực hiện theo thủ tục đầu tư trong nước. Quy định tại điều này tạo nên sự không đồng nhất, chồng chéo với các luật chuyên ngành, gây khó hiểu cho nhà đầu tư. Cụ thể, với nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục nếu là nhà đầu tư nước ngoài thành lập trường mần non, chỉ được tuyển số học sinh Việt Nam dưới 50% và làm thủ tục đầu tư tại cơ quan cấp Sở, còn nếu là nhà đầu tư trong nước thì không bị ràng buộc bởi tỷ lệ này và làm thủ tục tại cơ quan cấp phòng. Tuy nhiên, Điều 23 cho phép nếu số vốn dưới 50% thì thực hiện theo thủ tục đầu tư trong nước. Do vậy, sự không rõ ràng này dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh là nhà đầu tư nước ngoài có số vốn điều lệ dưới 50% sẽ làm thủ tục đầu tư trong nước và hưởng điều kiện của nhà đầu tư trong nước, trong khi đó theo WTO, Việt Nam chưa mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục mầm non.

Bên cạnh đó, việc áp dụng Điều 32 của Luật Đầu tư tại các tỉnh, thành phố có khác nhau, ví dụ ở một số tỉnh dự án đầu tư nước ngoài phải xin chủ trương của UBND cấp tỉnh. Do vậy, để làm rõ khi tham chiếu áp dụng cần quy định rõ UBND cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền cấp chủ trương đối với dự án đầu tư nào.
Sơn Dương - Tạp chí TCDN số 3/2019